Báo cáo Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bao_cao_quy_hoach_he_thong_cac_khu_bao_ton_vung_nuoc_noi_dia.docx
Nội dung text: Báo cáo Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020
- UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Báo cáo tổng hợp QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÁC KHU BẢO TỒN VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 Vũng Tàu – tháng 12/2012 i
- UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÁC KHU BẢO TỒN VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 CƠ QUAN CHỦ TRÌ CƠ QUAN TƯ VẤN SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN VIỆN KINH TẾ VÀ NÔNG THÔN BÀ RỊA - VŨNG TÀU QUY HOẠCH THỦY SẢN VIỆN TRƯỞNG Nguyễn Thanh Tùng Vũng Tàu – tháng 12/2012 ii
- MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Đặt vấn đề 1 2. Hệ thống các văn bản pháp lý lập quy hoạch 3 3. Phạm vi, nội dung và mục tiêu nghiên cứu 5 4. Phương pháp nghiên cứu 6 5. Sản phẩm của dự án 7 PHẦN THỨ NHẤT:ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘITỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 8 1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 8 1.1.1.Vị trí địa lý và đơn vị hành chính 8 1.1.2. Khí hậu, thời tiết 8 1.1.3. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 10 1.1.4. Chế độ thủy văn 11 1.1.5.Nguồn lợi và ngư trường 12 1.1.6. Chất lượng môi trường các vùng nước 14 1.2.Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh BR-VT 16 1.2.1. Dân số 16 1.2.2. Lao động 17 1.2.3. Tăng trưởng kinh tế 18 1.2.4. Vốn đầu tư 19 1.2.5. Hiện trạng phát triển rừng phòng hộ Bà Rịa-Vũng Tàu 20 PHẦN THỨ HAI:CÁC TÁC ĐỘNG VÀ THÁCH THỨC BẢO TỒN VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊATỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 21 2.1. Các khái niệm cơ bản 21 2.1.1. Vùng nước nội địa 21 2.1.2. Khu bảo tồn vùng nước nội địa 21 2.2. Những kinh nghiệm thiết lập khu bảo tồn vùng nước nội địa 24 2.2.1. Những kinh nghiệm Thế giới về xây dựng các khu BTVNNĐ 24 2.2.2. Tình hình các khu BTVNNĐ trong khu vực Đông Nam Á 25 2.2.3. Kinh nghiệm trong nước về xây dựng các KBTVNNĐ 29 2.2.4. Tiêu chí lựa chọn khu BTVNNĐ theo luật ĐDSH và Nghi định 65 31 2.3. Hiện trạng tình hình kinh tế xã hội vùng RNM Bà Rịa - Vũng Tàu 34 2.3.1. Vai trò giá trị của Rừng ngập mặn 34 2.3.2. Tình hình kinh tế-xã hội vùng RNM ven biển 37 2.3.3. Thực trạng hệ sinh thái RNM ở vùng nghiên cứu 40 2.3.4. Một số giải pháp của cộng đồng về việc bảo vệ RNM và các hệ sinh thái có liên quan đến RNM ở địa phương 45 2.4. Thách thức, đe doạ làm suy giảm nguồn lợi và HST vùng nước nội địa 46 2.4.1. Biến đổi khí hậu và thiên tai 46 2.4.2. Môi trường, dịch bệnh 48 2.4.3. Tác động của hoạt động kinh tế xã hội 50 iii
- 2.4.4. Tác động của ô nhiễm môi trường đến hệ sinh thái thủy vực 51 PHẦN THỨ BA: HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 54 3.1. Đa dạng sinh học thực vật nổi 54 3.1.1. Thành phần loài thực vật nổi 54 3.1.2. Mật độ thực vật nổi 55 3.2. Đa dạng sinh học động vật nổi 56 3.2.1. Thành phần loài động vật nổi 56 3.2.2. Mật độ động vật nổi 57 3.3. Đa dạng sinh học động vật đáy 58 3.3.1. Đa dạng thành phần loài 58 3.3.2. Khu hệ động vật đáy lớp giáp xác 58 3.3.3. Khu hệ động vật thân mềm lớp chân bụng và lớp hai mảnh vỏ 59 3.4.Đa dạng sinh học cá 60 3.4.1. Đa dạng khu hệ cá sông suối tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 60 3.4.2. Đa dạng khu hệ cá cửa sông, RNM và các bầu nước ngọt 64 3.5.Tổng hợp đa dạng sinh học thủy sinh 70 PHẦN THỨ TƯ:QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÁC KHU BẢO TỒN VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU ĐẾN NĂM 2020 72 4.1. Quan điểm, mục tiêu và phạm vi và nhiệm vụ của quy hoạch 72 4.1.1. Quan điểm phát triển 72 4.1.2.Mục tiêu phát triển 73 4.1.3. Phạm vi quy hoạch 73 4.1.4. Nhiệm vụ quy hoạch 73 4.1.5. Tiêu chí lựa chọn khu BTVNNĐ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 74 4.2. Phân hạng các khu bảo tồn vùng nước nội địa ở Bà Rịa Vũng Tàu 74 4.2.1. Quan điểm 74 4.2.2. Phân hạng 75 4.3. Xây dựng danh mục các khu bảo tồn 77 4.3.1. Xây dựng danh mục các khu đề xuất 77 4.3.2. Khu bảo tồn Lộc An- Phước Thuận: (Khu bảo tồn loài và sinh cảnh - Ưu tiên 1) 79 4.3.3. Khu bảo tồn cửa sông Đồng Nai (sông Thị Vải-Tân Hải-Tân Hòa-Phước Hòa: (Khu bảo tồn loài và sinh cảnh - Ưu tiên 2) 80 4.3.4. Khu bảo tồn đảo Long Sơn: (Khu bảo tồn loài và sinh cảnh – Ưu tiên 3) 81 4.3.5. Khu bảo tồn Phước Cơ - Cửa Lấp (Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh - Ưu tiên 3) 83 4.4. Giải pháp thực hiện quy hoạch 84 4.4.1. Giải pháp thể chế và chính sách 84 4.4.2. Giải pháp khoa học công nghệ 85 4.4.3. Giải pháp nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng 86 4.4.4. Quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa 87 4.4.5. Giải pháp về vốn đầu tư 88 4.4.6. Lập quy hoạch chi tiết và thực hiện kế hoạch quản lý các KBTVNNĐ 89 iv
- 4.4.7. Giải pháp về tổ chức quản lý 91 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC 101 v
- DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Một số chỉ tiêu về khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàugiai đoạn 2003 - 2010 9 Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh giai đoạn 2009-2011 10 Bảng 3: Trữ lượng và khả năng khai thác hải sản vùng biển Nam Bộ(Đvt: tấn) 12 Bảng 4: Hiện trạng dân số Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 16 Bảng 5: Hiện trạng lao động Bà Rịa-Vũng tàu giai đoạn 2007-2011 17 Bảng 6: Hiện trạng năng suất lao động tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu 2007-2011 17 Bảng 7: Hiện trạng GDP Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 18 Bảng 8: Hiện trạng vốn đầu tư Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 19 Bảng 9: Hiện trạng phát triển rừng phòng hộ giai đoạn 2005-2011 20 Bảng 10: Các tiêu chí để xác định các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế nhằm đề xuất khu Ramsar 32 Bảng 11: Kiểm tra và sàng lọc các khu thuỷ vực dự kiến đề xuất 33 Bảng12: Hiện trạng nghề và thu nhập các hộ trong vùng nghiên cứu 38 Bảng 13: Kết quả thảo luận PRA với cộng đồng người dân có sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái RNM tại xã Phước Thuận huyện Xuyên Mộc năm 2011 41 Bảng 14: Kết quả thảo luận PRA với cộng đồng người dân có sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái RNM tại xã Tân Hải huyện Tân Thành năm 2011 42 Bảng 15: Kết quả thảo luận PRA với cộng đồng người dân có sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái RNM tại xã Tân Hải huyện Tân Thành năm 2012 44 Bảng 16: Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi vùng nghiên cứu 54 Bảng 17:Tổng hợp loài cá ở các thủy vực nội địa tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 67 Bảng 18:Tổng hợp các loài cá có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ở BR-VT 68 Bảng 19: Các loài cá bị nguy cấp ở các thủy vực nội địa BRVT 69 Bảng 20: Tổng hợp số loài thủy sinh vật tại các thủy vực 70 Bảng 21: Danh mục đề xuất các khu bảo tồn vùng nước nội địa của Bà Rịa Vũng Tàu89 vi
- DANH MỤC HÌNH (BIỂU ĐỒ) Biểu đồ 1: Cơ cấu dân số 6 xã/phường được lựa chọn xây dựng KBT năm 2011 37 Biểu đồ 2: Cơ cấu nghề NTTS trong RNM tại 6 xã/phường nghiên cứu năm 2011 39 Biểu đồ 3: Cơ cấu nghề KTTS trong RNM tại 6 xã/phường nghiên cứu năm 2011 39 Biểu đồ 4: Cơ cấu kinh tế 6 xã phườngnghiên cứu năm 2011 39 Biểu đồ 5: Một số nguyên nhân làm suy giảm RNM ở tỉnh 40 Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 40 Biểu đồ 6: Một số nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản trong 43 RNM ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 43 Biểu đồ 7: Một số nguyên nhân làm suy giảm sản lượng NTTS có liên quan 43 đến RNM ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 43 Biểu đồ 8: Một số nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản trong 44 RNM ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 44 Biểu đồ 9: Thành phần thực vật nổi ở các thủy vực tiêu biểu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 56 Biểu đồ 10: Thành phần loài động vật nổi ở các thủy vực tiêu biểu tỉnh BRVT 57 Biểu đồ 11: Thành phần loài giáp xác ở các thủy vực tiêu biểu tỉnh BR-VT 59 Biểu đồ 12: Thành phần loài nhuyễn thể ở các thủy vực tiêu biểu tỉnh BR-VT 59 Biểu đồ 13:Tổng hợp loài cá ở các thủy vực nội địa tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 68 vii
- DANH MỤC BẢN ĐỒ 1. Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 2. Bản đồ địa hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 3. Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 4. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2010 5. Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2011 6. Bản đồ đa dạng sinh học các thủy vực tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 7. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020 8. Bản đồ quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020 viii
- DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CITES Công ước Quốc tế về Kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã quý hiếm BTTN Bảo tồn thiên nhiên BTVNNĐ Bảo tồn vùng nước nội địa DTSQ Dự trữ sinh quyển ĐDSH Đa dạng sinh học ĐNN Đất ngập nước GIS Hệ thống thông tin địa lý HST Hệ sinh thái HST ĐNN Hệ sinh thái đất ngập nước IUCN Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên KBT Khu bảo tồn KH&CN Khoa học và Công nghệ KT-XH Kinh tế - xã hội NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NXB Nhà xuất bản RAMSAR Công ước quốc tế về ĐNN RNM Rừng ngập mặn TX Thường xuyên VNNĐ Vùng nước nội địa VQG Vườn Quốc gia UNESCO Tổ chức Văn hoá, Giáo dục, Khoa học Liên hiệp quốc WMO Tổ chức Khí tượng Thuỷ văn Thế giới WWF Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên ix
- MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Bà Rịa Vũng Tàu có hai thành phố trực thuộc tỉnh và 6 huyện, với dân số là 994.837 người. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.982,2 Km², hiện nay diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh năm 2012 là 34.505,6ha, trong đó đất có rừng 26.006,7ha. Rừng Bà Rịa – Vũng tàu có khoảng 700 loài thực vật gỗ và thân thảo, có nhiều loại gỗ quý hiếm. Trong rừng có 200 loài động vật, có nhiều loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Rừng nguyên sinh hiện nay chỉ còn 2 khu vực ở Bình Châu (Xuyên Mộc) và huyện Côn Đảo. Bà Rịa Vũng Tàu là một tỉnh ven biển có hệ thống sông hồ dày đặc và hệ sinh thái đặc trưng có thể kết hợp đa chức năng như bảo tồn với du lịch, giao thông như: Sông Dinh, sông Thị Vải, sông Cái mép, sông Cỏ May, sông Chà Vá, , sông Hà Lú, rạch Cây khế và rạch Bà Dài, rạch Bến Đình, hồ Sông Ray, hồ Suối Sậy, hồ Đá Đen, hồ Châu Pha, hồ Đá Bàn, hồ Châu Pha, hồ sông Hỏa, bàu Ngựa, bàu Sình Trong đó, Sông Dinh là con sông lớn nhất, sông bắt nguồn từ núi Dinh, chảy qua Phước Lễ, xuôi theo hướng Tây Bắc Vũng Tàu dài 11 km, chỗ rộng nhất 1000m chỗ hẹp nhất 300m, nơi sâu nhất 25m; Sông Cái Mép làm ranh giới giữa xã Thạnh An (Cần Giờ) và xã Phước Hòa (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), từ sông Thị Vải đến cửa Cần Giờ trong vịnh Gành Rái, dài độ 8.500m. Ngoài cửa sông có cù lao Phú Lợi. Tắt ở ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh An, huyện Cần Giờ, dài độ 500m; Sông Thị Vải bắt nguồn từ vùng rừng núi của tỉnh Đồng Nai, đoạn hạ lưu chảy qua huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, rồi đổ ra biển ở vịnh Gành Rái, dài khoảng 13.400m. Sông là ranh giới hai huyện Tân Thành (Bà Rịa-Vũng Tàu) và huyện Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh) Hệ thống sông hồ của Bà Rịa Vũng Tàu chứa đựng nhiều chức năng như chứa nước, giao thông thủy, đặc biệt là chứa đựng khu hệ động thực vật thủy sinh và nguồn lợi thủy sản phong phú, chứa đựng những giống loài quý hiếm và các hệ sinh thái đặc thù, các bãi đẻ, bãi ương dưỡng cần được bảo vệ. Theo Quyết định 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020 thì tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bước đầu xác định được 1 khu bảo tồn các vùng nước nội địa, thuộc huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là một trong những khu vực thể hiện nét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam. Cùng với những nghiên cứu về ĐNN trên toàn thế giới và ở Việt Nam, ĐNN cửa sông ven biển Đông Nam bộ với những hệ sinh thái ĐNN quan trọng như hệ thống sông, cửa sông ven biển: Sông Đồng Nai, sông Bé, các bàu thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu cũng được chú trọng hơn nhưng nhìn chung những công trình nghiên cứu vẫn còn chưa nhiều và phần lớn chưa đánh giá tổng quát được hết những đặc trưng cũng như vai trò của các hệ sinh thái ĐNN này. Đặc biêt, vùng cửa sông Đồng Nai thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được xác định là khu vực có độ đa dạng sinh học cao và mức độ ưu tiên bảo tồn là rất cao. Tuy nhiên, 1
- vùng này còn ít công trình nghiên cứu đề cập và các hoạt động bảo tồn còn hạn chế, chưa được chú trọng ưu tiên. Những năm gần đây, ngành Thuỷ sản của Bà Rịa Vũng Tàu phát triển mạnh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là quản lý, khai thác chưa có sự quy hoạch tổng thể, sự phối kết hợp giữa các Bộ, ban ngành địa phương chưa có sự gắn kết, dẫn tới nguồn lợi thuỷ sản giảm sút, tính đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tiêu biểu như: rừng ngập mặn, vùng cửa sông, hồ, đầm, sông, rạch bị khai thác và tác động mạnh, gây bất lợi cho sự phát triển, sinh trưởng của các loài thuỷ sinh vật. Một số loài trước đây cho sản lượng khai thác lớn nay đã bị tuyệt chủng hoặc giảm sản lượng, sản lượng cá giống còn quá ít. Trên các sông suối khác, hiện tượng suy kiệt nguồn lợi cũng tương tự. Vùng cửa sông ven biển bị tác động mạnh và một số khu vực phá để chuyển đổi mục đích sử dụng, làm mất nơi sinh sống của giống loài thuỷ sản chưa trưởng thành. Bên cạnh sự phát triển kinh tế, các hoạt động thuỷ sản và những hoạt động kinh tế khác của cộng đồng dân cư ở khu vực như: Sử dụng xung điện làm tê liệt hoặc làm chết hàng loạt để khai thác thuỷ sản;Xả các chất độc hại được thải ra trong nông nghiệp có nồng độ vượt quá giới hạn quy định; Phá rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, các bãi thực vật ngầm và các sinh cảnh đặc biệt khá. Đắp bờ, lấn đất đã làm thay đổi vùng nước và môi trường sống nguồn lợi thuỷ sản. Khai thác ở các khu vực bãi đẻ, mùa vụ, nơi sinh sống tập trung của các loài thuỷ sản thời kỳ còn bé, có sức bổ sung lớn nguồn lợi thuỷ sản ở khu vực; Dùng các công cụ khai thác mang tính huỷ diệt như loại lưới có kích thước mắt lưới nhỏ, các loại đáy, đăng, mành ; Đánh bắt và tiêu thụ các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm hoặc có nguy cơ diệt chủng nằm trong danh mục cần được bảo vệ. Các hoạt động của cộng đồng dân cư và tác động của phát triển kinh tế xã hội; sự tự phát của các loại hình nghề nghiệp không phù hợp và một số người vì lợi ích nhỏ nhen đã sử dụng xung điện để khai thác triệt để các loài thuỷ sản cùng với sự biến đổi của các yếu tố sinh thái ở khu vực này đã làm cho môi trường vùng nước bị ô nhiễm, các loài thuỷ đặc sản có giá trị kinh tế cao như: các loài tôm thuộc họ (Penaeidae), cua biển (Scylla serrata), ghẹ (Portunus pelagicu), bị suy giảm nghiêm trọng đặc biệt là các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ diệt chủng. Nhiều văn bản, chính sách của Trung ương, địa phương nhằm ngăn chặn và nghiêm cấm không cho phép khai thác thuỷ sản bằng các loại nghề xung điện, chất độc hại, chất nổ, các loại nghề có kích thước mắt lưới nhỏ; cấm khai thác cá Chình Mun (Là loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam) nhưng tình trạng trên vẫn liên tục xảy ra trên vùng. Đặc biệt, theo Quyết định 192/2003/QĐ - TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010; Quyết định 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2010 và Công văn số 7570/UBND-VT ngày 24 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc triển khai thực hiện “Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020” để đảm bảo cho kế 2
- hoạch bảo tồn một cách toàn diện và có hệ thống cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho cư dân trong vùnglà việc cấp thiết. 2. Hệ thống các văn bản pháp lý lập quy hoạch * Các văn bản của Trung ương: (1)Luật thuỷ sản năm 2003. (2) Luật đất đai năm 2003. (3) Luật khuyến khích đầu tư trong nước (Sửa đổi) số 03/1998/QH10 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam tại kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998. (4) Luật bảo vệ Môi trường năm 2005. (5)Công ước RAMSAR, 1971, IRAN, Công ước Quốc tế về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước. (6) Công ước Đa dạng sinh học, 1992, BRAXIN “Chương trình hành động thế kỷ 21 về bảo vệ Đa dạng sinh học” cam kết sử dụng có hiệu quả hệ thống các khu đất ngập nước, trước hết bảo tồn các loài chim nước tránh nguy cơ bị tuyệt chủng tiếp đến các loài động, thực vật khác. (7) Nghị định số 109/2003/NĐ - CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước và khoản 2 điều 11 của Nghị định giao trách nhiệm cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch, bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước chuyên ngành trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. (8)Nghị định của Chính phủ số 27/ 2005/NĐ - CP ngày 08/03/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuỷ sản đã quy định: Khu bảo tồn vùng nước nội địa là nơi được khoanh vùng thuộc các vùng đất ngập nước để bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái đặc thù, có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế, có giá trị đa dạng sinh học cao nhằm cân bằng sinh thái, bảo vệ các giống, loài đang sinh sinh sống, cư trú; khu bảo tồn vùng nước nội địa được quản lý theo quy định của Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước. (9)Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/09/2006, về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. (10) Thông tư 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP. (11) Quyết định số 15/2007/QĐ-TTg, ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2006-2015, định hướng đến năm 2020. (12) Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP về lập, phê duyệt và quản lý 3
- quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. (13) Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 04/2008/NĐ-CP. (14) Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN, ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc công bố danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. (15) Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. (16) Quyết định số 1690/QĐ-TTg, ngày 16/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020. (17) Quyết định số 346/QĐ-TTg, ngày 15/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. (18) Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. (19) Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg, ngày 13/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa. (20) Quyết định số 332/QĐ-TTg, ngày 03/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020. (21) Quyết định số 1349/QĐ-TTg, ngày 09/08/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. (22) Quyết định 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020. (23) Quyết định số 188/QĐ-TTg, ngày 13/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020. * Các văn bản của địa phương (24) Quyết định số 2002/QĐ-UBND, ngày 14/09/2011 của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành Chương trình hành động của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ V nhiệm kỳ 2011- 2015 (NQ26). (25) Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 02/8/2010 của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Bà Rịa-Vũng Tàu về phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2015. (26) Quyết định số 50/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh BR-VT ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 12-NQ/TU, ngày 02/8/2010 của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Bà Rịa-Vũng Tàu về phát triển thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đến năm 2015. 4
- (27) Căn cứ Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 07/9/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt đề cương và kinh phí thực hiện quy hoạch lập quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đến năm 2020; (28) Căn cứ Quyết định số 3575/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu lập quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020 (29) Căn cứ Quyết định số 194 /QĐ-SNN-TS, ngày 25/4/2011 của Sở Nông nghiệp và PTNT v/v phê duyệt kết quả chỉ định thầu lập quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020. (30) Căn cứ vào Hợp đồngsố 02/HĐVTV ngày 26 tháng 5 năm 2011 về thực hiện gói thầu tư vấn: “Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đến năm 2020”giữa Sở NN&PTNT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản. (31) Quyết định số 1548/QĐ-UB ngày 10 tháng 08 năm 2012 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020 3. Phạm vi, nội dung và mục tiêu nghiên cứu * Tên dự án: Theo Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 07/9/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt đề cương và kinh phí thực hiện, tên dự án là: Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020. * Phạm vi nghiên cứu - Theo không gian: Quy hoạch được tiến hành trên phạm vi toàn tỉnh, bao gồm Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Bà Rịa và huyện Long Điền, huyện Đất Đỏ, huyện Châu Đức, huyện Tân Thành, huyện Xuyên Mộc Tập trung khảo sát quy hoạch khu bảo tồn thuỷ sản ven biển, khu bảo tồn thuỷ sản nước ngọt (sông, suối lớn, hồ tự nhiên, rạch, bàu tự nhiên). - Theo thời gian: Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020; * Nội dung nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng kinh tế- xã hội, điều kiện tự nhiên, tình hình bảo tồn giống loài thuỷ sản nội địa, các vùng sinh thái tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. - Điều tra khảo sát xác định thành phần và mức độ đa dạng giống loài thủy sinh, các hệ sinh thái và thủy vực điển hình tại Bà Rịa Vũng Tàu - Xác định vị trí, vai trò của hệ thống bảo tồn trong kinh tế thuỷ sản và kinh tế xã hội. - Phân tích, dự báo phát triển các khu bảo tồn, phát triển nguồn lợi thuỷ sản nội 5
- địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu - Quan điểm quy hoạch - Các luận chứng phương án quy hoạch hệ thống bảo tồn thuỷ sản nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu - Xây dựng tiêu chí, quy chế khu bảo tồn nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu - Các nhóm giải pháp thực hiện quy hoạch thuỷ sản nội địa - Danh mục các dự án đầu tư phát triển * Mục tiêu của quy hoạch Hình thành hệ thống các khu bảo tồn thuỷ sản nội địa nhằm bảo tồn, tái tạo nguồn lợi thủy sản tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020. * Đối tượng của quy hoạch - Bảo tồn các vùng nước nội địa nơi chứa đựng các loài thuỷ sản, đặc biệt là các loài quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, các loài có giá trị kinh tế, có ý nghĩa khoa học, giống loài thuỷ sản bản địa có nguy cơ tuyệt chủng; các bãi đẻ, bãi giống thuỷ sản, nguồn gen và một số hệ sinh thái tiêu biểu tại các vùng đất ngập nước nội địa - Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí, quy chế quản lý bảo tồn thuỷ sản nội địa. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp tiếp cận - Đã tiếp cận các phương pháp điều tra nghiên cứu cơ bản về đa dạng sinh học, loài quí hiếm, loài đặc hữu, các loài có giá trị kinh tế và các loài có các giá trị bảo tồn khác. Trên cơ sở đó đề xuất bảo tồn các loài. - Đã tiếp cận phương pháp Quy hoạch xây dựng khu bảo tồn vùng nước nội địa trên cơ sở 9 tiêu chí đã được xây dựng dựa vào điều 9 của luật Thủy sản, bám sát các mục tiêu và hướng dẫn của Công ước đa dạng sinh học mà Việt Nam là một thành viên, theo định hướng bảo tồn đa dạng sinh học nhưng không mâu thuẫn với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Tiếp cận theo nguyên tắc quản lý dựa vào cộng đồng. - Tiếp cận theo phương pháp sinh thái học Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật đã sử dụng - Tổng quan, kế thừa các tài liệu đã có. - Áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện hành về sinh học, sinh thái học, đa dạng sinh học và phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường (bao gồm các phương pháp điều tra, thu mẫu và phân tích định tính, định lượng ngoài tự nhiên và trong phòng thí nghiệm dựa trên các quy trình và tài liệu hướng dẫn chuẩn theo từng nhóm chuyên môn). - Áp dụng các phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra kinh tế-xã hội- nhân văn dựa vào cộng đồng. 6
- - Sử dụng các phần mềm thống kê để tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích tương quan và phân tích hệ thống. - Sử dụng các phần mềm và kỹ thuật phân tích ảnh viễn thám. Phương pháp chuyên gia - Tiến hành hội thảo, lấy ý kiến của các chuyên gia của các sở, ngành, cơ quan địa phương có liên quan. 5. Sản phẩm của dự án - Báo cáo tổng hợp quy hoạch, báo cáo tóm tắt (kèm theo các bảng biểu, số liệu điều tra khảo sát, danh sách thành phần các loài sinh vật, danh sách các loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế, hiện trạng các hệ sinh thái) - Các báo cáo chuyên đề (kèm theo) - Bản đồ số hoá GIS bao gồm: Tập bản đồ phân bố hệ thống khu bảo tồn, vùng bảo tồn thuỷ sản nội địa, bản đồ tỷ lệ tỷ lệ 1/50.000 ( 10 bộ) khổ A0 (01 bộ) và khổ A3 (10 bộ) - Ý kiến bằng văn bản của các chuyên gia, các Sở, Ban Ngành liên quan - Dự thảo tờ trình UBND tỉnh và dự thảo quyết định phê duyệt “Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vung nước nội địa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020” - Báo cáo thẩm định của hội đồng nghiệm thu quy hoạch cấp cơ sở. - Đĩa CD ghi toàn bộ các số liệu nói trên 6. Bố cục báo cáo Bố cục của báo cáo quy hoạch, ngoài mở đầu và kết luận, gồm có 4 phần chính: - Phần thứ nhất:Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu - Phần thứ hai: Các tác động và thách thức bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh BRVT - Phần thứ ba:Hiện trạng đa dạng sinh học vùng nước nội địa tỉnh BRVT - Phần thứ tư:Quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa tỉnh BRVT đến năm 2020 7
- PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 1.1.1.Vị trí địa lý và đơn vị hành chính Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo. Phần đất liền: phía Đông giáp với Bình Thuận, đường ranh giới dài 29,26 km thuộc địa phận huyện Xuyên Mộc; phía Tây giáp với Tp.HCM, đường ranh giới dài 16,33 km thuộc địa phận huyện Tân Thành; phía Bắc giáp với Đồng Nai dài 116,5 km thuộc địa phận các huyện Tân Thành, Châu Đức và Xuyên Mộc; phía Nam và Tây Nam giáp biển Đông, chiều dài bờ biển là 305,4 km, trong đó chiều dài bờ biển phần đất liền 100 km. Phần biển và hải đảo: Thềm lục địa với trên 100.000 km 2 tiếp giáp với quần đảo Trường Sa, nơi đây chứa đựng hai loại tài nguyên cực kỳ quan trọng là dầu mỏ và hải sản, có huyện đảo Côn Đảo là một quần đảo gồm 14 hòn đảo lớn nhỏ nằm giữa đại dương cách Tp. Vũng Tàu 185 km, cách Tp.HCM 230 km, cách cửa sông Hậu khoảng 83 km. Diện tích tự nhiên toàn huyện khoảng 75,15 km 2, trong đó hòn đảo lớn nhất có diện tích 51,52 km2 gọi là Côn Lôn hay Côn Đảo. Côn Đảo có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nằm sát với đường hàng hải quốc tế từ Âu sang Á, ngay giữa ngư trường lớn của vùng biển Đông Nam Bộ. Hiện nay, Bà Rịa - Vũng Tàu có 8 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Bà Rịa; các huyện: Châu Đức, Xuyên Mộc, Tân Thành, Long Điền, Đất Đỏ và huyện đảo Côn Đảo với tổng số 82 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh năm 2010 là 1.989,5 km2, dân số 1.011.971 người, mật độ 509người/km2. Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi. Là đầu mối giao thương quan trọng của vùng Đông Nam Bộ, với các nước trong khu vực và trên thế giới. 1.1.2. Khí hậu, thời tiết Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương. Nhiệt độ trung bình năm khá cao (27,8 oC) và tương đối ổn định, nhiệt độ trung bình năm 2010 là 28,1oC. Sự thay đổi nhiệt độ của các tháng trong năm không lớn, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 - tháng 2 (25 – 27 oC), cao nhất là vào tháng 4 - tháng 5 (28,6 – 29,5 oC). Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2.344 – 2.694 giờ và phân phối tương đối đều ở các tháng trong năm. Số giờ nắng cao tập trung vào các tháng 3, 4 và 5 (265 – 307 giờ/tháng) và ít nhất vào tháng 12 (104 – 204 giờ/tháng). 8
- Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (930,9 – 1.519,8 mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, với lượng mưa lớn chiếm 90% lượng mưa cả năm; lượng mưa còn lại phân bố vào các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình năm không cao, dao động từ 77,42 – 79,75% và tương đối ổn định, chênh lệch giữa tháng có độ ẩm cao nhất với tháng thấp nhất chỉ khoảng 5%. Bảng 1:Một số chỉ tiêu về khí hậu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàugiai đoạn 2003 - 2010 Danh mục Đvt T/bình 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nhiệt độ trung bình oC 27,8 27,5 27,5 27,6 28,0 27,8 27,7 27,8 28,1 Giờ nắng giờ 2.557,5 2.665 2.694 2.530 2.613 2.344 2.508 2.580 2.526 Lượng mưa năm mm 1.294,1 1.147,5 1.271,7 930,9 1.513,8 1.519,8 1.389,5 1.157,9 1.421,9 Độ ẩm tương đối TB % 78,7 79,2 78,8 79,3 77,4 77,9 77,6 79,75 79,58 (Nguồn: NGTK tỉnh BR-VT các năm 2004, 2008, 2010) Bà Rịa – Vũng Tàu chịu ảnh hưởng của 3 loại gió: Gió Đông Bắc, và gió Bắc thường xuất hiện vào đầu mùa khô có tốc độ khoảng 1 – 5 m/s; Gió Chướng xuất hiện vào mùa khô với tốc độ 4 – 5 m/s; Gió Tây và Tây - Nam với tốc độ 3 – 4 m/s thường xuất hiện vào khoảng từ Tháng 5 đến Tháng 11. Vùng biển chịu ảnh hưởng chủ yếu của 2 loại gió mùa Đông Bắc và Tây Nam theo mùa rõ rệt, cường độ gió không cao, ít có bão xảy ra (tần suất 4,2%/năm), hàng năm cho phép các tàu thuyền đánh cá hoạt động khoảng 250 ngày. Tuy nhiên, vùng biển này có nhiều dông nhất trong năm, trung bình 100 - 140 ngày dông/năm. Khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày (như tiêu, điều, cao su, cà phê), cây nông nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản, Các tai biến thiên nhiên: * Bão:Bà Rịa – Vũng Tàu là khu vực rất ít khi có bão (tần suất 4,2%/năm), tuy nhiên Bà Rịa – Vũng Tàu cũng chịu ảnh hưởng của những cơn bão hoạt động ở khu vực Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Thời kỳ bão hoạt động trên biển Nam Trung Bộ rất muộn, chủ yếu là từ tháng 9 - 12. Bão có sức gió yếu và phần lớn các trận bão không gây thiệt hại đáng kể. Khi có bão xảy ra thường đi kèm hiện tượng nước biển dâng cao 2 - 3 m, có hại tới các công trình ven biển. Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho các thuyền bè đánh bắt thủy sản. * Hiện tượng xâm nhập mặn: phụ thuộc vào thủy triều của biển Đông, biến đổi mực nước, lưu lượng vùng cửa sông, địa hình khu vực, khí hậu và tác động của con người: do địa hình cao và tương đối dốc nên ảnh hưởng trên diện rộng của xâm nhập mặn không nhiều. Tuy nhiên do nằm trong khu vực biển có độ mặn cao, biên độ dao động triều tương đối lớn nên vào các tháng mùa khô, nước mặn cũng xâm nhập vào các khu vực cửa sông ven biển làm cho độ mặn ở các khu vực này tăng cao, có thời điểm đạt 28 - 35‰. 9
- 1.1.3. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 1) Đặc điểm địa hình Địa hình của tỉnh bao gồm núi, đồi, đồng bằng nhỏ và các đồi cát, dải cát chạy vòng theo bờ biển. Phần đất liền khá cao và có xu hướng dốc ra biển. Phần sát biển lại có một số núi chắn lại. Núi có độ cao không lớn, lớn nhất chỉ khoảng 500 m. Toàn tỉnh có hơn ¾ diện tích đồi núi, thung lũng thấp, có trên 50 ngọn núi cao 100 m trở lên, khi ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo. Độ cao trên 400 - 500 m có núi Ông Trịnh, núi Chúa, núi Thánh Giá. Địa hình tập trung vào 4 loại đặc trưng (đồng bằng hẹp, các núi, gò đồi, thềm lục địa). Phần đất liền (chiếm 96% diện tích của tỉnh) thuộc bậc thềm cao nguyên Di Linh – vùng Đông Nam Bộ, hướng nghiêng từ tây bắc xuống đông nam, giáp biển Đông. Quần đảo Côn Đảo (chiếm 4% diện tích của tỉnh) gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Côn Sơn có diện tích lớn nhất rộng 57,5 km 2, cách Vũng Tàu 180 km, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2, nền đáy tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp, nền đáy chủ yếu là cát và cát sỏi. 2) Thổ nhưỡng Với diện tích 198.740 ha, chia thành 4 loại: đất rất tốt là loại đất có độ phì rất cao, chiếm 19.60% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất phù sa và đất xám; đất tốt chiếm 26,40%; đất trung bình chiếm 14,4%; còn lại 39,60% là đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn. Đánh giá các loại đất của Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy: Nhóm đất phù sa, đất xám, đất đen và đất đỏ vàng có ý nghĩa lớn cho sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 60,4%, tỷ trọng này tương đối lớn so với nhiều tỉnh trong cả nước. Ngoài ra, còn một tỷ trọng lớn đất không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp bao gồm đất cát, đất nhiễm phèn, mặn, đất xói mòn, 3) Hiện trạng sử dụng đất Tại thời điểm tháng 01/01/2011, trong tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 198,95nghìn ha, diện tích đất nông nghiệp là 147,47nghìnha, chiếm 74,12%. Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 6,08 nghìn ha, chiếm 4,12% diện tích đất nông nghiệp và có xu hướng giảm dần (năm 2005 là 7,79 nghìn ha, năm 2009 là 6,21 nghìn ha) do chuyển sang nhóm đất chuyên dùng. Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh giai đoạn 2009-2011 Năm 2009 Năm 2011 Stt Chỉ tiêu Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu (nghìn ha) (%) (nghìn ha) (%) * Tổng diện tích đất tự nhiên 198,74 100,00 198,95 100,00 1 Đất nông nghiệp 148,71 74,83 147,47 74,12 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 106,1 71,35 106,04 71,91 - Đất trồng cây hàng năm 33 31,10 31,8 30,02 - Đất trồng cây lâu năm 73,09 68,89 74,21 69,98 1.2 Đất lâm nghiệp 35,21 23,68 33,51 22,72 10
- - Rừng sản xuất 5,9 16,76 6,03 17,99 - Rừng phòng hộ 12,03 34,17 11,16 33,30 - Rừng đặc dụng 17,23 48,93 16,32 48,70 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 6,21 4,18 6,08 4,12 1.4 Đất làm muối 1,15 0,77 1,14 4,12 1.5 Đất nông nghiệp khác 0,04 0,03 0,7 0,47 2 Đất phi nông nghiệp 48,01 24,16 49,65 24,96 2.1 Đất ở 4,89 10,19 5,64 11,36 2.2 Đất chuyên dùng 30,2 62,90 33,08 66,63 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,43 0,90 0,44 0,89 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 0,43 0,90 0,44 0,89 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 12,01 25,02 10,01 20,16 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 0,04 0,08 0,04 0,08 3 Đất chưa sử dụng 2,02 1,02 1,81 0,91 - Đất bằng chưa sử dụng 0,96 47,52 0,76 41,99 - Đất đồi núi chưa sử dụng 1,06 52,48 0,95 52,49 - Núi đá không có rừng cây - - 0,10 5,52 4 Đất có mặt nước ven biển - - 0,02 0,01 (Nguồn: NGTK tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009, 2011) 1.1.4. Chế độ thủy văn 1) Hệ thống sông rạch, hồ chứa Hệ thống sông rạch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chủ yếu có 3 con sông chính: Sông Thị Vải - Cái Mép dài 42 km, đoạn chảy qua tỉnh thuộc huyện Tân Thành và thành phố Bà Rịa dài 25 km, rộng 600 - 800 m, sâu 10-20 m, con sông này có ý nghĩa rất lớn về giao thông đường thuỷ, đặc biệt là một số vị trí có thể xây dựng cảng nước sâu cho phép các loại tàu 50-80 ngàn tấn có thể ra vào được. Sông Dinh có lưu vực rộng 300 km 2, đoạn chảy qua tỉnh thuộc huyện Châu Đức và Thành phố Bà Rịa dài 30 km; Sông Ray dài 120 km, lưu vực 770 km 2, đoạn chảy qua tỉnh thuộc các huyện Xuyên Mộc, Châu Đức và Đất Đỏ dài 40km. Ngoài ra còn có một hệ thống các con sông suối nhỏ khác như: Sông Bà Đáp, sông Lồ Ô Nhỏ Đặc điểm nổi bật của các sông suối của tỉnh là lòng sông nhỏ hẹp, dòng chảy ngắn. Vì vậy khả năng cung cấp nước cũng như bồi lắng phù sa không nhiều. Dưới tác động của dòng chảy và hoạt động của sóng, gió, thủy triều nên có một số khu vực đang bị đe dọa bởi hiện tượng xói lở hai bên bờ sông. Trên địa bàn tỉnh cũng có một số hồ chứa, đập thủy lợi: Hồ Đá Đen diện tích 487 ha với dung tích khoảng 33 triệu m 3, hồ Suối Dao dung tích khoảng 1 triệu m3 thuộc huyện Châu Đức; hồ Sông Ray, hồ xuyên Mộc, thuộc huyện Xuyên mộc; hồ Châu Pha , hồ Gia Kèo thuộc huyện Tân Thành; hồ Đá Bàng dung tích 11,35 triệu m3, hồ Bút Thiềng (2,4 triệu m3) thuộc huyện Long Điền 2) Chế độ thủy văn Do ảnh hưởng của chế độ mưa mùa nên chế độ dòng chảy trong các sông 11
- suối trong tỉnh cũng có tính phân mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mưa (lũ). Trong mùa lũ lượng nước trong các lưu vực sông tăng dần theo chế độ mưa mùa (từ tháng 5 đến tháng 10). Đỉnh lũ thường rơi vào tháng 10, lưu lượng dòng chảy vẫn còn lớn cho đến tháng 11. Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau, mực nước trên các sông suối xuống thấp, gần như khô kiệt. Nguyên do là vì sông ngắn, có độ dốc lớn, địa chất thường là dễ thấm mất nước, thảm thực vật đầu nguồn các hồ chứa do tác động của con người đang ngày càng thu hẹp, khả năng giữ nước hạn chế. Do cấu trúc địa hình và phân bố dòng chảy nên vào mùa mưa lũ thường gây ra hiện tượng ngập úng cục bộ tại các khu vực có địa hình thấp, ven các sông suối. Vào mùa khô lại có nguy cơ thiếu nước tại một số khu vực. Các sông trong vùng đều thông ra biển đông nên chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều 2 – 3,5 m; ảnh hưởng của thủy triều sâu vào đất liền 170 km đối với hệ thống sông Đồng Nai. Vùng biển chịu ảnh hưởng chủ yếu của 2 loại gió mùa Đông Bắc và Tây Nam theo mùa rõ rệt, cường độ gió không cao, ít có bão, nhưng có nhiều dông. Khi có bão xảy ra thường đi kèm hiện tượng nước biển dâng cao 2 - 3 m, có hại tới các công trình ven biển. 1.1.5.Nguồn lợi và ngư trường Nguồn lợi:Hoạt động khai thác hải sản ở Bà Rịa - Vũng Tàu chủ yếu trên vùng biển Nam Bộ, đặc biệt vùng Đông Nam Bộ là nơi có nguồn lợi rất phong phú và đa dạng với tổng trữ lượng các loài hải sản chủ yếu (cá, tôm, mực ) là 1.256.682 tấn, khả năng khai thác 582.110 tấn. Vùng biển Tây Nam Bộ có nguồn lợi hải sản thấp hơn, trữ lượng hải sản đạt 504.222 tấn, khả năng khai thác 202.557 tấn. Trong đó thềm lục địa của Bà Rịa - Vũng Tàu có khả năng khai thác tối đa hàng năm từ 150.000 - 170.000 tấn, tuy nhiên hiện nay sản lượng khai thác hải sản của tỉnh đạt trên 250.000 tấn mỗi năm (trong đó khoảng 30% sản lượng được khai thác ở các vùng biển ngoài tỉnh, tương đương 175.000 tấn), đã vượt ngưỡng cho phép trên 5.000 tấn, đây là cơ sở quan trọng phục vụ công tác quy hoạch sắp xếp lại cơ cấu đội tàu KTHS phù hợp với nguồn lợi hiện có của tỉnh. Nguồn lợi thủy sản trên các thủy vực nội địa của tỉnh không nhiều, khả năng khai thác hàng năm khoảng 300 – 500 tấn. Sản lượng thủy nội địa tự nhiên có xu hướng giảm dần trong thời gian qua do thu hẹp diện tích thủy vực khai thác nhường chỗ cho các hoạt động kinh tế khác. Bảng 3: Trữ lượng và khả năng khai thác hải sản vùng biển Nam Bộ(Đvt: tấn) Khả năng Vùng biển Loại cá Trữ lượng Tỉ lệ (%) Tỉ lệ (%) KT Cá nổi 770.800 61,33 385.400 66,20 Đông Nam Cá đáy 384.879 30,63 153.952 26,45 Bộ Mực 77.393 6,16 30.952 5,32 12
- Tôm 23.610 1,88 11.806 2,03 Tổng 1.256.682 100 582.110 100 Cá nổi 316.000 62,67 126.000 62,20 Cá đáy 162.689 32,27 65.075 32,13 Tây Nam Bộ Mực 12.890 2,56 5.160 2,55 Tôm 12.643 2,50 6.322 3,12 Tổng 504.222 100 202.557 100 (Nguồn: ViệnNC Hải sản Hải Phòng, dự án nghiên cứu nguồn lợi hải sản xa bờ 2000-2002, 2003-2006) Ngư trường:Theo tài liệu “nghiên cứu về đặc điểm nguồn lợi cá biển Việt Nam, trữ lượng và khả năng khai thác – Viện hải sản Hải Phòng", vùng biển Nam Bộ và vịnh Thái Lan có 7 ngư trường, hầu hết các ngư trường này nằm dọc theo các vùng nước ven bờ, gần các đảo, có độ sâu dưới 200 mét. * NT9- vùng gò nổi ngoài khơi Phan Rang, có độ sâu 280 mét, với đối tượng đánh bắt chính là cá đỏ môi, chiếm 62% tổng sản lượng các loài cá đánh bắt tại ngư trường này. * NT10- nằm phía Đông Phan Thiết, mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Có loài cá mối vạch (có thể đánh bắt được chúng quanh năm), cá trác đuôi dài, cá nục sồ, cá mối thường. * NT11- nằm ở phía Nam Cù Lao Thu, có độ sâu 50-200 mét. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) là mùa đánh bắt chính, nhưng có thể khai thác quanh năm(vào khoảng tháng 4 đến tháng 7 năng suất giảm). Các loài đánh bắt chính là cá mối vạch, cá trác ngắn, cá mối thường, cá hồng và cá phèn khoai. * NT12- nằm quanh khu vực đảo Côn Sơn, đáy cát mịn và vỏ sò. Có độ sâu 25-40 mét. Mùa khai thác chính là giai đoạn giao thời giữa thu sang đông, với các loài cá đánh bắt được là cá nục sồ, cá hồng, cá mối thường, cá chỉ vàng, cá phèn, cá lượng. * NT13- nằm ở cửa sông Hậu, có độ sâu 10-12 mét, có thể khai thác quanh năm. Mật độ cá tập trung cao nhất là khu vực cửa sông Hậu. Có cá sạo, cá nhụ, cá trích, cá khế, cá đù nanh, cá hồng đỏ. * NT14- nằm ở vùng ven bờ biển Tây Nam Việt Nam. Chỉ sâu khoảng 10- 15 mét, có thể đánh bắt với năng suất cao quanh năm. Có các loài cá chính là cá liệt (chiếm 70% sản lượng đánh bắt hàng năm), cá chỉ vàng, cá hồng, họ cá căng, cá lượng. * NT15- nằm phía Tây Nam đảo Phú Quốc, sâu 10-15 mét, cũng có thể khai thác quanh năm với sản lượng cao. Ở đây có các loài cá chủ yếu là cá liệt (chiếm 25-30%), cá chỉ vàng, cá hồng, họ cá căng và cá cơm, Nhìn chung nguồn lợi thủy sản trong những năm trở lại đây đang có xu 13
- hướng giảm dần, nhất là nguồn lợi nội địa và nguồn lợi hải sản ven bờ. Các đối tượng chủ yếu đã khai thác tới ngưỡng, riêng đối với sản lượng tôm đã khai thác quá mức. Trong thời gian tới chỉ có thể tăng thêm sản lượng ở khu vực xa bờ ở một số loài cá đáy và cá nổi đại dương. 1.1.6. Chất lượng môi trường các vùng nước 1) Chất lượng môi trường nước ngọt * Nước mặt Nước mặt ở BR-VT chủ yếu do 4 con sông chính cung cấp, đó là: Sông Thị Vải - Cái Mép, Sông Dinh, Sông Ray và sông Băng Chua. Trên các con sông này có 3 hồ chứa lớn là hồ Đá Đen, hồ sông Ray, hồ Châu Pha. Theo kết quả quan trắc môi trường của trung tâm quan trắc môi trường tỉnh năm 2009 thì nguồn nước trên các con sông, rạch, hồ chứa ít nhiều đã bị ô nhiễm một số yếu tố như chất hữu cơ và dầu mỡ - Nguồn nước Sông Dinh và sông Ray bị ô nhiễm nhẹ một số yếu tố như chất rắn lơ lửng lửng, vượt mức cho phép từ 27-127mg/l (tiêu chuẩn cho phép là 20mg/l). Một số khu vực bị ô nhiễm sắt, dinh dưỡng và vi sinh (theo tiêu chuẩn nước sinh hoạt). Hiện tại và tương lai, Sông Dinh và Sông Ray là nguồn nước chủ yếu cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Các khảo sát bước đầu đã chỉ ra rằng trên 2 con sông này có thể xây dựng được trên 20 công trình thuỷ lợi với tổng dung tích khoảng 250 triệu m 3 phục vụ tưới tiêu, cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp. - Nguồn nước Sông Thị Vải - Cái Mép: Từ những năm trước đây (2009) bị ô nhiễm nặng không thể dùng cho sinh hoạt cũng như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và NTTS. Các chỉ tiêu phân tích đều vượt xa tiêu chuẩn cho phép (kết quả khảo sát đợt 2 năm 2009 của trung tâm quan trắc môi trường tỉnh tại điểm cách khu xả thải của nhà máy Vedan 1 km cho thấy: hàm lượng chất rắn lơ lửng SS: 10mg/l – 5,6mg/l; chất hữu cơ BOD5: 519mg/l – 5,4mg/l; kim loại nặng (T-Fe :0,62mg/l - 0,18 mg/l, Zn: 0,187mg/l - 0,077mg/l, Cd: 0,047mg/l- KPH, Pb : 0,313 - KPH); amoni NH4+: 6,20mg/l – 0,78mg/l; nitrat N-NO3: <0,1 mg/l – 0,433 mg/l, nitrit N-NO2: 0,011 mg/l – 0,267 mg/l; dầu mỡ T-dầu: 0,5mg/l – 4,5mg/l và vi sinh T-coliform: 45 MPN/100ml – 460MPN/100ml). Tuy nhiên, trong những năm gần đây chất lượng môi trường nước tại các sông đã được cải thiện đáng kể do việc quản lý tốt hơn nguồn nước thải từ các nhà máy chế biến, các khu công nghiệp. Đây chính là cơ sở cho việc xây dựng các khu bảo tồn vùng nước nội địa. - Tại sông Băng Chua cũng đã bị ô nhiễm chất hữu cơ vượt quá mức cho phép nhiều lần. - Chất lượng nước hồ nhìn chung còn tốt, chỉ có một số hồ bị ô nhiễm chất dinh dưỡng, vi sinh (nếu tính theo tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt). Với trên 30 hồ lớn nhỏ, là nguồn dự trữ nước quan trọng cho mục đích tưới tiêu phục vụ nông nghiệp, sản xuất công nghiệp cũng như cấp nước cho sinh hoạt. Các hồ 14
- lớn như: Hồ Đá Đen (trên sông Dinh) dung tích 24,5 triệu m 3, có khả năng cấp 110.000m3/ngày - đêm; Hồ Sông Ray (trên sông Ray) có dung tích 130 - 140 triệu m3, có khả năng cung cấp 450.000 - 600.000 m 3/ngày - đêm; Hồ Châu Pha (trên sông Dinh) có khả năng cấp 15.000m3/ngày-đêm, * Nước ngầm - Nước ngầm của tỉnh khá phong phú, tổng trữ lượng có thể khai thác là 70.000 m3/ngày-đêm, tập trung vào 3 khu vực chính là: Bà Rịa 20.000 m 3/ngày- đêm; Phú Mỹ - Mỹ Xuân 25.000 m 3/ngày-đêm; Long Điền 15.000 m3/ngày-đêm. Ngoài 3 vùng trên khả năng khai thác nước ngầm rải rác khoảng 10.000 m 3/ngày - đêm. - Nước ngầm trong tỉnh nằm ở độ sâu 60 - 90m, có dung lượng trung bình từ 10-20m3/s nên khai thác tương đối dễ dàng. Kết quả quan trắc nước ngầm tại một số vị trí trên địa bàn tỉnh năm 2009 (đặt tại TX. Bà Rịa và các huyện Tân Thành, Long Điền và Châu Đức) cho thấy chất lượng nước ngầm đã bị ô nhiễm vi sinh với mức độ cao ở hầu hết các điểm tiến hành quan trắc và bị axit hóa nhẹ ở một vài vị trí. Các thông số còn lại biến động không đều nhưng vẫn nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép. Nguồn nước ngọt của Bà Rịa – Vũng Tàu có thể cho phép khai thác tối đa 500.000 m3/ngày đêm (trong đó từ nước ngầm là 70.000 m 3). Hiện tại nguồn nước căn bản đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Tuy nhiên trong tương lai với mức độ sử dụng nước cho các hoạt động sản xuất ngày càng tăng, nguy cơ thiếu nước có thể xảy ra. Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng mà nguyên nhân được xác định là do các hoạt động công nghiệp gây nên. Trên địa bàn tỉnh hiện có 10 khu công nghiệp tập trung, hầu hết đều nằm dọc sông Thị Vải và sông Dinh là những khu vực khá nhạy cảm về môi trường nước. Các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các địa phương cũng nằm gần các đập nước, nguồn nước Cơ sở hạ tầng tại các khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải và chất thải hoặc chưa đồng bộ nên chất thải từ đây được đổ thẳng xuống sông. 2) Chất lượng môi trường nước mặn - Nước biển ven bờ nơi tiếp nhận nước thải của các khu vực đô thị, dân cư như: xã Lộc An, cảng cá Phước Tỉnh, khu vực Sao Mai Bến Đình vẫn còn tiếp tục bị ô nhiễm mức độ nhẹ một số yếu tố như: ô nhiễm dầu mỡ (khu vực Sao Mai – Bến Đình); vi sinh (khu vực cảng cá Phước Tỉnh); chất dinh dưỡng (khu vực cảng cá Phước Tỉnh và xã Lộc An) - Nước biển ven bờ tại các khu vực du lịch, phục vụ cho bãi tắm như: khu vực Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Bãi tắm Long Hải, khu vực Hồ Cốc nhìn chung chất lượng nước có chuyển biến theo chiều hướng tốt. Tại thời điểm tiến hành quan trắc (năm 2009) ở khu vực này hầu hết các chỉ tiêu còn trong giới hạn cho phép, chỉ có một số chỉ tiêu bị ô nhiễm nhẹ như: khu vực bãi Trước, Bãi Dâu bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng (TSS), Bãi Sau bị ô nhiễm vi sinh. 15
- - Nước biển khu vực huyện đảo Côn Đảo không có số liệu quan trắc thường xuyên nên không thể đáng giá chính xác chất lượng nước tuy nhiên do dân cư còn ít, lượng chất thải thải ra không nhiều trong khi khả năng trao đổi nước lại rất cao nên có thể sơ bộ đánh giá là chưa bị ô nhiễm. 1.2.Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh BR-VT 1.2.1. Dân số Theo thống kê của tỉnh, năm 2011 toàn tỉnh có trên 1 triệu người tăng 5,56% so với năm 2007. Trong đó, dân số nam chiếm 49,98%, nữ chiếm 50,02%, dân số thành thị chiếm 49,85%, dân số nông thôn chiếm 50,14% tổng dân số toàn tỉnh. Về tốc độ tăng trưởng dân số giai đoạn 2007-2011, bình quân toàn tỉnh tăng 1,36%, trong đó dân số nam tăng 1,29%/năm, nữ tăng 1,43%/năm, nông thôn tăng 0,84%/năm, dân số thành thị tăng 1,9%/năm. Như vậy tỷ lệ đô thị hóa ở tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu rất nhanh, điều này cũng đồng nghĩa với việc diện tích rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng do phải mở rộng quỹ đất để phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển Kết qủa tính toán cho thấy, bình quân cứ dân số tăng trưởng 1% thì diện tích rừng ngập mặn trong tỉnh giảm tương ứng 22,8%, rõ ràng tốc độ đô thị hóa càng cao thì diện tích RNM càng có nguy cơ bị suy giảm mạnh và ngược lại. Bảng 4: Hiện trạng dân số Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 Đvt: Người TT Hạng mục 2007 2008 2009 2010 2011 TĐTBQ Dân số toàn tỉnh 973.130 994.189 998.548 1.011.971 1.027.226 1,36% Tỷ lệ % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 1 Dân số nam 487.699 497.408 499.062 505.771 513.395 1,29% Tỷ lệ % 50,12 50,03 49,98 49,98 49,98 2 Dân số nữ 485.431 496.781 499.486 506.200 513.831 1,43% Tỷ lệ % 49,88 49,97 50,02 50,02 50,02 3 Dân số thành thị 474.983 486.567 497.816 502.200 512.113 1,90% Tỷ lệ % 48,81 48,941 49,854 49,6259 49,854 4 Dân số nông thôn 498.147 507.622 500.732 509.771 515.113 0,84% Tỷ lệ % 51,19 51,059 50,146 50,3741 50,146 5 Tỷ lệ sinh 16,06 15,84 17,7 15,6 15,2 -1,37% 6 Tỷ lệ tăng tự nhiên 12,16 11,86 11,1 9,10 8,88 -7,56% Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế, người ta đã tìm ra quy luật kinh tế sau: Cứ bình quân dân số tăng trưởng 1% thì nền kinh tế phải tăng trưởng tương ứng 4% mới đảm bảo duy trì ổn định nền kinh tế, trong khi đó thực tế giai đoạn 2007-2011 bình quân dân số Bà Rịa-Vũng Tàu tăng trưởng 1,36%, trong khi đó kinh tế tăng 16
- trưởng 4,21%/năm. Rõ ràng điều này tiềm ẩn nhiều mối nguy phát triển không bền vững đối với nền kinh tế của Bà Rịa-Vũng tàu hiện tại cũng như trong tương lai. 1.2.2. Lao động Theo Niên giám thống kê, năm 2011 toàn tỉnh có khoảng trên 438 nghìn lao động chiếm 42,64% dân số toàn tỉnh, tăng 6,06% so với năm 2007. Trong đó, lao động khu vực nông, lâm và thủy sản chiếm 39,02% lao động toàn tỉnh, lao động công nghiệp-xây dựng chiếm 26,55%, lao động ngành dịch vụ chiếm 34,43% lao động toàn tỉnh. Riêng lao động thủy sản chiếm 22,12% lao động toàn ngành nông, lâm, thủy sản và 8,63% lao động toàn tỉnh. Về tốc độ tăng trưởng lao động tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 cho thấy xu hướng tăng mạnh lao động lĩnh vực công nghiệp-xây dựng, và dịch vụ (công nghiệp-xây dựng tăng 2,88%/năm, dịch vụ tăng 5,6%/năm). Trong khi đó lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản lại có xu hướng giảm (lao động nông, lâm nghiệp giảm 2,35%/năm, thủy sản giảm 2,26%/năm). Thực tế cho thấy hầu hết ngư dân sống và có sinh kế liên quan đến thủy sản nói chung và hệ sinh thái RNM trong thời gian 2-3 năm trở lại đây làm ăn không có hiệu quả đã chuyển sang làm ở các lĩnh vực khác như công nhân tại các KCN, đi làm thuê ở các thành phố khác trong và ngoài tỉnh. Bảng 5: Hiện trạng lao động Bà Rịa-Vũng tàu giai đoạn 2007-2011 Đvt: Người TT Hạng mục 2007 2009 2010 2011 TĐTBQ Toàn tỉnh 413.005 417.561 433.897 438.021 1,48% Tổng tỷ trọng % 10,00 100,00 100,00 100,00 1 Nông, lâm và thủy sản 187.944 179.989 175.135 170.906 -2,35% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 45,51 43,10 40,36 39,02 Thủy sản 41.424 36.162 37.198 37.804 -2,26% Tỷ trọng so với nông, lâm thủy sản % 22,04 20,09 21,24 22,12 Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 10,03 8,66 8,57 8,63 2 Lao động công nghiệp-xây dựng 103.788 109.775 119.239 116.293 2,88% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 25,13 26,29 27,481 26,54 3 Lao động dịch vụ 121.273 127.797 139.523 150.822 5,60% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 29,36 30,61 32,16 34,43 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 Về năng suất lao động nhìn chung ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản so với các lĩnh vực khác thì vẫn còn ở mức thấp chỉ bằng 0,36 lần so với bình quân toàn tỉnh, bằng 0,06 lần so với lĩnh vực công nghiệp-xây dựng, và bằng năng suất lĩnh vực dịch vụ. Riêng thủy sản cao gấp 3,8 lần so với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và bằng lĩnh vực dịch vụ. Bảng 6: Hiện trạng năng suất lao động tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu 2007-2011 Đvt: Tr. Đồng/người/năm TT Hạng mục 2007 2008 2009 2010 2011 TĐTBQ Toàn tỉnh 304,44 407,11 315,90 347,93 439,04 9,58% 1 Nông, lâm nghiệp 10,96 24,83 28,08 35,87 39,22 37,54% 17
- 2 Thủy sản 26,79 108,10 119,62 122,46 151,53 54,22% 3 Công nghiệp 1.878,45 2.424,19 1.554,41 1.643,26 2.163,66 3,60% 4 Xây dựng 50,14 47,14 51,08 53,10 58,56 3,96% 5 Dịch vụ 107,54 114,88 145,83 130,12 155,91 9,73% Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 1.2.3. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế của Bà Rịa-Vũng Tàu tính đến năm 2011 tổng sản phẩm toàn tỉnh đạt 192,3 nghìn tỷ đồng, tăng 52,95% so với năm 2007. Trong đó trên 85% phụ thuộc vào ngành công nghiệp-xây dựng, trong khi đó các ngành khác còn lại chiếm 15% (nông nghiệp chiếm 2,75%, thủy sản 2,86%, dịch vụ chiếm 9,14%). Rõ ràng đối với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát triển công nghiệp là một hướng đi đúng trong gian đoạn sắp tới. Tuy nhiên, bài toán phát triển công nghiệp ngoài lợi ích về mặt kinh tế phải đảm bảo hài hòa lợi ích về mặt xã hội và môi trường thì tỉnh thực sự chưa quan tâm đúng mức về vấn đề này. Kết qủa tính toán cho thấy, bình quân kinh tế tăng trưởng 1% thì diện tích rừng ngập mặn trong tỉnh giảm tương ứng 25%. Theo Liên Hợp Quốc ước tính rằng các loài thủy sản có liên quan đến rừng ngập mặn chiếm tới 30% sản lượng thuỷ sản toàn cầu và gần như 100% sản lượng tôm ở Đông Nam Á. Hệ sinh thái RNM ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, hạn chế tác hại của sóng, bão, sói lở bờ biển/đê biển, bảo vệ môi trường, cung cấp gỗ, là nơi cú trú và sinh sản của nhiều loại thủy hải sản Ngoài ra RNMcòn là nơi tạo sinh kế chính cho một bộ phận không nhỏ người nghèo ven biển thu nhặt các loại thủy hải sản có liên quan đến RNM. Với vị trí và vai trò quan trọng trên của hệ sinh thái RNM đối với cảnh quan môi trường và nguồn lợi thủy sản thì Bà Rịa-Vũng Tàu phải cân nhắc kỹ các phương án quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội có liên quan đến hệ sinh thái RNM, giảm tối đa việc quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất RNM ở địa phương. Bảng7: Hiện trạng GDP Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 Đvt: Tỷ đồng TT Hạng mục 2007 2009 2010 2011 TĐTBQ I TỔNG SẢN PHẨM (giá thực tế) Toàn tỉnh 125.737 131.794 147.879 192.319 11,21% Tổng tỷ trọng % 100,00 100,00 100,00 100,00 1 Nông, lâm và thủy sản 2.716 8.366 9.506 10.781 41,15% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 2,16 6,35 6,43 5,61 Thủy sản 1.110 4.326 4.834 5.501 49,21% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 0,88 3,28 3,27 2,86 Tỷ trọng so với nông, lâm, thủy sản % 40,87 51,71 50,86 51,02 2 Công nghiệp-xây dựng 113.210 115.615 123.441 163.970 9,70% Tỷ trọng so với nông, lâm, thủy sản % 90,04 87,72 83,47 85,26 3 Dịch vụ 9.811 7.813 14.932 17.568 15,68% Tỷ trọng so với nông, lâm, thủy sản % 7,80 5,93 10,10 9,14 18
- II TỔNG SẢN PHẨM (giá so sánh) Toàn tỉnh 32.990 34.070 36.638 38.901 4,21% Tổng tỷ trọng % 1 Nông, lâm và thủy sản 1.674 2.635 2.641 2.809 13,81% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 5,07 7,73 7,21 7,22 Thủy sản 735 1.246 1.327 1.446 18,43% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 2,23 3,66 3,62 3,72 Tỷ trọng so với nông, lâm, thủy sản % 43,89 47,27 50,24 51,47 2 Công nghiệp-xây dựng 26.659 25.819 27.860 29.644 2,69% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 80,81 75,78 76,04 76,20 3 Dịch vụ 4.657 5.617 6.137 6.448 8,48% Tỷ trọng so với toàn tỉnh % 14,12 16,49 16,75 16,58 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 1.2.4. Vốn đầu tư Theo Niên giám thống kê của tỉnh, năm 2011 tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tăng 119,25% so với năm 2007. Trong đó, vốn đầu tư cho ngành nông, lâm nghiệp khoảng 97 tỷ đồng (bằng 0,32% so với toàn tỉnh), thủy sản khoảng 124 tỷ đồng (bằng 0,41% so với toàn tỉnh), công nghiệp-xây dựng chiếm 68,51%, và ngành dịch vụ chiếm 30,76% tổng vốn đầu tư toàn tỉnh. Thực tế cho thấy, bình quân giai đoạn 2007-2011 toàn tỉnh để tạo thêm 1 đồng GDP phải đầu tư tương ứng khoảng 2,85 đồng, ngành nông, lâm nghiệp phải đầu tư tương ứng 0,22 đồng, thủy sản khoảng 0,24 đồng, ngành công nghiệp-xây dựng khoảng 3 đồng, ngành dịch vụ khoảng 2,19 đồng. Rõ ràng đầu tư cho ngành nông, lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với đầu tư vào các lĩnh vực khác. Đây là cơ sở khoa học để cho tỉnh tham khảo trong việc xây dựng các chính sách, kế hoạch sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh sao cho đạt mục tiêu đề ra và đặc biệt chú ý đến việc phải đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế-xã hội-môi trường trong thời gian tới đến năm 2020, và tầm nhìn 2030. Như vậy có thể nói rằng, đầu tư cho nông, lâm nghiệp và thủy sản quá ít, với số tiền chiếm khoảng 0,7% vốn đầu tư toàn tỉnh không đủ để phát triển kinh tế nông nghiệp thì khó có thể để ngành trồng rừng và phục hồi RNM được. Đây là thực trạng đáng buồn không riêng gì của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và chung cho các tỉnh ven biển hiện nay. Nếu Nhà nước và địa phương không xem đầu tư bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái RNM là đầu tư cho tương lai, cho thế hệ mai sau thì nguy cơ lệ lụy từ tự nhiên tác động ngược trở lại đến nền kinh tế là khó tránh khói như tác động của triều cường, bão, các hiện tượng thời tiến khí hậu cực đoan. Điều này đã được chứng minh trong thực tế mỗi khi bão về hầu hết các địa phương ven biển không có RNM đều bị tàn phá nặng lề cả về kinh tế-xã hội-môi trường Bảng 8: Hiện trạng vốn đầu tư Bà Rịa-Vũng Tàu giai đoạn 2007-2011 Đvt: Tỷ đồng TT Hạng mục 2007 2009 2010 2011 TĐTBQ Toàn tỉnh 13.792 23.471 29.830 30.238 21,68% 19
- 1 Nông, lâm nghiệp 94 262 250 97 0,67% Thủy sản 77 66 115 124 12,57% 2 Công nghiệp-xây dựng 10.636 16.854 20.969 20.716 18,14% 3 Dịch vụ 2.985 6.290 8.495 9.301 32,86% Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2011 1.2.5. Hiện trạng phát triển rừng phòng hộ Bà Rịa-Vũng Tàu Theo thống kê, toàn tỉnh năm 2011 còn khoảng 11 ngìn ha, giảm 15,8% so với năm 2005, trong đó TP Vũng Tàu giảm nhiều nhất, bình quân giai đoạn 2005- 2011 giảm 4,81%/năm, huyện Tân Thành giảm 4,83%/năm, huyện Xuyên Mộc giảm 1,04%/năm, huyện Châu Đức giảm 0,86%/năm, các địa phương khác có xu hướng tăng lên trong khoảng từ 0,32%-3,91%/năm. Nguyên nhân gây suy giảm rừng phòng hộ có đến trên 90% là do chuyển đổi mục đích sử dụng đất (như phát triển các KCN, cảng biển, du lịch, hạ tầng giao thông ). 10% còn lại là do các yếu tố khác từ bên ngoài như chặn phá rừng, làm đầm nuôi tôm, rừng tự chết do ô nhiễm nguồn nước, nước mặn không lưu chuyển Riêng rừng ngập mặn theo thống kê tính đến năm 2011 toàn tỉnh còn khoảng 1,88 nghìn ha, giảm 762 ha so với năm 2008, bình quân giai ðoạn 2008- 2011 giảm 16%/nãm. Nếu tốc ðộ này vẫn ðýợc duy trì trong thời gian tới thì chỉ sau 5-10 năm RNM sẽ không còn. Cái nôi nuôi dưỡng nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học trên biển, giảm tối đa các thiệt hại không đáng có do triều cưỡng, bão và áp thấp nhiệt đới, sạt lở đất sẽ tác động ngược trở lại nền kinh tế của tỉnh, đây là điều mà tỉnh cần đặc biệt quan tâm trong thời gian tới, thời điểm được cho là chịu tác động nhiều của BĐKH và nước biển dâng. Bảng 9: Hiện trạng phát triển rừng phòng hộ giai đoạn 2005-2011 Đvt: Ha TT Tên địa phương 2005 2009 2010 2011 TĐTBQ Toàn tỉnh 12.755 12.035 11.556 11.088 -2,82% 1 TP Vũng Tàu 1.908 1.916 1.750 1.550 -4,81% 2 TX Bà Rịa 303 303 320 350 3,91% 3 Châu Đức 464 458 452 446 -0,86% 4 Xuyên Mộc 896 896 877 859 -1,04% 5 Long Điền 667 840 840 840 3,93% 6 Đất Đỏ 1.328 1.508 1.454 1.403 0,32% 7 Tân Thành 6.688 5.759 5.483 5.219 -4,83% 8 Côn Đảo 457 355 380 420 1,52% Quy hoạch Phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến năm 2020 20
- PHẦN THỨ HAI CÁC TÁC ĐỘNG VÀ THÁCH THỨC BẢO TỒN VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊATỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 2.1. Các khái niệm cơ bản 2.1.1. Vùng nước nội địa Vùng nước nội địa bao gồm tất cả các hệ sinh thái vùng nước nội địa được mô tả trong định nghĩa đất ngập nước của Công ước Ramsar. Các vùng nước nội địa bao gồm các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nước chảy và nước đứng, nước mặt và nước ngầm. Cụ thể hơn, các vùng nước nội địa bao gồm sông, suối, hồ, hồ chứa, tầng nước trong núi đá vôi (hang nước ngầm), đầm nước mặn, vùng nước cửa sông, vùng nước lợ ven bờ. Trong đó, ba kiểu thuỷ vực sau cùng được xem chịu ảnh hưởng rất lớn của dòng chảy lục địa đổ ra. Như vậy, các vùng nước nội địa hết sức đa dạng về độ lớn, hình thái, đặc tính thủy lý hóa học, tiềm năng nguồn lợi Điều quan trọng là chế độ nước thường xuyên có biến động theo thời gian (mùa), có khi khô cạn, nhưng lại có khi ngập lụt lớn, khiến cho ranh giới của các vùng nước cũng luôn biến đổi, không ổn định. Đặc điểm này khiến cho hình thái cấu trúc một vùng nước nội địa có thế có dạng tập trung, nhưng cũng có khi có dạng phân tán, rải rác, nối với nhau bằng những đường hành lang phức tạp. Do vậy, việc phân các vùng chức năng trong một khu bảo tồn cũng cần linh hoạt, sao cho phù hợp với sự biến động này. Khác với các vùng biển, với vị trí nằm trên đất liền, theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, có thể có yêu cầu xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện, xây dựng các đập ngăn sông, hình thành các hồ chứa nước lớn, hoặc nạo vét lòng sông, xây dựng cầu cảng, phá bỏ các ghềnh thác trên các dòng sông. Các vùng nước nội địa thường có mối quan hệ mật thiết, chịu tác động thường xuyên, trực tiếp từ các vùng dân cư, nông nghiệp, lâm nghiệp ở vùng lưu vực, thông qua các hoạt động khai thác rừng, xói mòn đất, thải chất ô nhiễm Những hoạt động đó có thể gây những biến đổi lớn đối với chế độ thủy học, ảnh hưởng xấu tới môi trường của vùng nước, tác động tới hoạt động sống của các sinh vật sống trong thuỷ vực. Các sinh vật sống trong các vùng nước nội địa (môi trường nước ngọt, nước lợ, lợ mặn) được xem là thuỷ sinh vật nội địa. Dưới góc độ sinh thái, trong thành phần thuỷ sinh vật nội địa, về cơ bản, có một tập hợp các loài nước ngọt thực thụ, một tập hợp các loài nước lợ và một tập hợp các loài phân bố rộng có khả năng thích ứng chịu mặn hoặc chịu ngọt. Trong thuỷ sinh vật nội địa, những loài có giá trị sử dụng làm thực phẩm, hoặc cho các nhu cầu khác của con người và thường được khai thác được xem là nguồn lợi thuỷ sản. 2.1.2. Khu bảo tồn vùng nước nội địa Theo Công ước Đa dạng sinh vật (1992), mục tiêu của việc thành lập các khu BTTN nhằm bảo vệ và bảo tồn lâu dài các quần thể sinh vật có giá trị và các HST. Bảo tồn đa dạng sinh vật bao gồm cả đa dạng thuỷ sinh vật, đòi hỏi phải bảo 21
- vệ các hình mẫu đại diện của tất cả các kiểu HST, đồng thời kết hợp với sự quản lý các HST ở bên ngoài những khu bảo vệ đó. Đòi hỏi này được tái xác nhận tại Hội nghị Bảo tồn Thế giới vào năm 2004. Khu BTTN theo định nghĩa được chấp nhận rộng rãi của IUCN (1994) là những vùng đất/nước được sử dụng để bảo vệ và duy trì sự đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và giá trị văn hoá, được quản lý thông qua luật pháp hoặc các phương tiện khác. Định nghĩa này có ba yếu tố then chốt: 1/ Khu vực bảo vệ phải được đặt dưới sự quản lý đã được xác định. 2/ Sự quản lý phải có hiệu quả là làm giảm ít nhất một mối đe doạ lớn tới những giá trị của vùng bảo vệ (những giá trị này sẽ được giám sát và báo cáo thường xuyên). 3/ Vùng phải được bảo đảm về sở hữu. Khu bảo tồn vùng nước mang tính đại diện là một trong những kiểu vùng nước quan trọng nhất và được lựa chọn để bảo vệ các mẫu đại diện của HST, các đặc trưng hoặc hiện tượng tự nhiên. Tổng quát nhất, các khu bảo tồn vùng nước được xây dựng với các mục tiêu: Bảo vệ ĐDSH thông qua sự bảo tồn, gìn giữ các mẫu đại diện của các HST và bảo vệ các loài và kiểu gen trong HST đó; Bảo vệ các quần xã sinh vật và loài bị đe doạ; Bảo tồn đặc trưng thực vật học, động vật học hoặc địa chất học có tính độc nhất hoặc quý hiếm hoặc nổi tiếng; Thiết lập các chuẩn sinh thái, để đánh giá những thay đổi lâu dài trong HST (môi trường nước, thu hoạch thực vật, động vật); Bảo vệ những cảnh quan đặc biệt, sự hoang sơ, các giá trị tái tạo, nghiên cứu khoa học, văn hoá, giáo dục và sử dụng phù hợp với môi trường tự nhiên. Định nghĩa về khu bảo tồn vùng nước nội địa (BTVNNĐ) theo điều 5 Nghị định 27/2005/NĐ - CP ngày 08 tháng 03 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thủy sản thì Khu bảo tồn vùng nước nội địa là nơi được khoanh vùng thuộc các vùng đất ngập nước để bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái đặc thù, có tầm quan trọng Quốc gia, Quốc tế, có giá trị đa dạng sinh học cao nhằm cân bằng sinh thái, bảo vệ các giống loài đang sinh sống, cư trú. Khu bảo tồn vùng nước nội địa được quản lý theo quy định của Nghị định số 109/2003/NĐ - CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước. Khu BTVNNĐ có nét đặc trưng cơ bản khác với khu BTTN trên cạn ở chỗ nếu khu BTTN trên cạn với các kiểu HST trên cạn mà ở đó, giới sinh vật tồn tại trong môi trường tiếp xúc chỉ với môi trường đất và môi trường không khí thì khu BTVNNĐ với các kiểu HST vùng nước đa dạng mà giới sinh vật sống chủ yếu trong môi trường nước/nước lợ ven biển và phụ thuộc nhiều vào khả năng chuyển động của khối nước, dòng chảy. Ngoài ra, trong khu BTVNNĐ còn có một số 22
- nhóm sinh vật có một phần đời sống ở nước (lưỡng cư, thú-Rái cá) hoặc trong đời sống cần thức ăn từ quần xã thuỷ sinh vật trong thuỷ vực (chim nước). Bên cạnh sự giống nhau giữa khu BTVNNĐ với khu BTB là giới sinh vật đều sống trong môi trường nước nhưng khu BTVNNĐ cũng có nét khác biệt với khu BTB ở chỗ khu BTVNNĐ còn bao hàm cả yếu tố vùng lưu vực và vùng lưu vực có tác động lớn tới sự tồn tại và phát triển của vùng nước. Mặt khác, do đặc trưng về điều kiện địa hình (chướng ngại tự nhiên tạo nên đặc tính địa sinh vật) và chế độ khí hậu (đặc trưng chế độ thuỷ văn/dòng chảy) nên không có tính đồng nhất của các vùng nước nội địa giữa các vùng lãnh thổ. Các vùng nước nội địa rất đa dạng về loại hình như sông, suối, hồ ao, đầm lầy, sông ngầm trong hang động, đồng bằng ngập lụt, nước lợ-mặn cửa sông và thuật ngữ “Đất ngập nước” thường được sử dụng để mô tả một số kiểu vùng nước nội địa. Chính bởi sự đa dạng các loại hình vùng nước nội địa cho nên giới sinh vật ở đây rất đa dạng về thành phần loài. Tuy nhiên, cũng thấy những thách thức rất lớn đối với các vùng nước nội địa, thể hiện ở chỗ tốc độ suy giảm ĐDSH của vùng nước nội địa là nhanh hơn so với rừng và biển. Theo đánh giá của WWF (2002), số lượng quần thể nước ngọt nội địa đã bị suy giảm 50% trong 30 năm qua kể từ 1970. Hơn nữa, từ 1900, khoảng 50% vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị mất đi. So với giới sinh vật sống trong rừng và dưới biển, các sinh cảnh cũng như những nơi cư trú của các quần thể thuỷ sinh vật trong vùng nước nội địa phụ thuộc nhiều hơn về các quá trình sinh thái học có nguồn gốc từ bên ngoài, thậm chí rất xa ranh giới của khu bảo tồn. Dòng chảy trong toàn bộ vùng lưu vực bao giờ cũng được xem là cần thiết để duy trì thảm thực vật cho những vùng đất ngập nước và sự di cư, kiếm ăn và nuôi dưỡng các loài thuỷ sinh vật trong khu bảo tồn. Dòng chảy môi trường dễ dàng bị ngắt bởi xây dựng các đập nước, làm suy giảm thể tích, thời gian và chất lượng dòng chảy, gây ảnh hưởng tới khu hệ thuỷ sinh vật và các sinh cảnh vùng hạ lưu. Các HST vùng nước có thể tiếp nhận sự bảo tồn dưới các hình thức quản lý như quản lý các khu bảo tồn tự nhiên, các khu Di sản hoặc các khu rừng dự trữ. Cũng như với các khu BTTN khác, trong phạm vi khu BTVNNĐ, việc bảo vệ được đưa ra bởi cách thức quản lý mang tính toàn diện, tính tương xứng hoặc tính đại diện như Hệ thống BTTN quy định. Đối với các vùng nước nội địa được lựa chọn là khu bảo tồn vùng nước nội địa, các đe doạ thường nằm bên ngoài hệ thống bảo vệ. Nếu không lồng ghép giữa quản lý các khu bảo tồn thuỷ sản với các yếu tố bên ngoài có nhiều tác động qua lại với vùng nước thì rất khó thực hiện được công tác bảo tồn. Bởi vậy, quy hoạch hệ thống BTVNNĐ không chỉ tập trung duy nhất vào chính vùng nước được bảo tồn mà cần nhấn mạnh tới các vấn đề rộng lớn hơn đang tồn tại liên quan như các hoạt động trên vùng lưu vực. 23
- 2.2. Những kinh nghiệm thiết lập khu bảo tồn vùng nước nội địa 2.2.1. Những kinh nghiệm Thế giới về xây dựng các khu BTVNNĐ Trên thế giới, có nhiều kiểu khu BTTN đã hỗ trợ bảo tồn các hệ sinh thái thuỷ vực và loài thuỷ sinh vật. Một số khu BTTN đã định hướng bảo tồn các hệ sinh thái thuỷ vực như vùng đất ngập nước theo Công ước Ramsar và các dòng sông Di sản. Tuy nhiên, nếu so sánh với việc quy hoạch và xây dựng các khu BTTN ở trên cạn và khu BTB đã được thực hiện từ lâu và đang tiến tới hoàn chỉnh các công đoạn thì thấy việc quy hoạch và xây dựng các khu bảo tồn vùng nước nội địa dường như chưa được nhiều và chưa thấy có dẫn liệu đề cập cụ thể. Dưới đây chỉ liệt kê một số kinh nghiệm thu nhận được từ các văn liệu liên quan tới bảo tồn vùng nước nội địa bao gồm cả bảo tồn đa dạng thuỷ sinh vật và nguồn lợi cá ở Ôstrâylia, Hoa Kỳ và khu vực Đông Nam Á. Kinh nghiệm ệ Ô-strây-li-a Mặc dầu tất cả các bang của Ô-strây-li-a đã có những thoả thuận về chính sách xây dựng hệ thống các khu bảo tồn vùng nước ngọt nội địa nhưng hầu hết chưa được thực hiện. Ô-strây-li-a có hàng trăm con sông, sông có mối quan hệ mật thiết với vùng lưu vực, bởi vậy bảo vệ sông không thể hiện thực nếu không bảo vệ vùng lưu vực cũng như bảo vệ chế độ dòng chảy bán tự nhiên. Vì thế, ở Ô-strây-li-a, trong khi hầu hết các HST vùng nước đang bị suy thoái kéo dài thì công tác bảo vệ các hệ thống sông được xem là hình thức bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả nhất. Trong chính sách xây dựng các khu bảo tồn vùng nước ở Ô-strây-li-a, các hệ sinh thái vùng nước ngọt, nước lợ-mặn ven biển như sông, hồ, suối, đất ngập nước, đồng bằng ngập lụt, nước ngầm trong các sinh cảnh đá vôi, hang động ngầm, thác nước, cửa sông liên quan tới dòng chảy nước ngọt là những đối tượng lựa chọn đưa vào hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nội địa. Tại Ô-strây-li-a, các hệ sinh thái nước ngọt nội địa đang có nhiều nguy cơ suy thoái. Sự mở rộng và phát triển nông nghiệp kèm theo hệ thống tưới tiêu đã làm thay đổi chế độ thuỷ văn của các HST vùng nước. Phức hệ các kiểu HST suối, các vực sâu, nền đáy đá tảng đã biến mất dần do sự lắng đọng trầm tích từ xói mòn trên vùng lưu vực. Chính vì vậy, Ô-strây-li-a đã tiến hành xác định những khu bảo tồn vùng nước nội địa. Các yếu tố quan trọng được xem là những tiêu chí để lựa chọn và quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa như sau: a. Tiêu chí cho các khu bảo tồn thuỷ vực Khu bảo tồn thuỷ vực sẽ cần có ít nhất một trong các tiêu chí sau: Là một kiểu đại diện trong một miền địa sinh vật; Đóng một vai trò sinh thái và thuỷ văn quan trọng trong chức năng tự nhiên của một HST vùng nước; Là một nơi cư trú quan trọng cho các loài thực vật, động vật quý hiếm có một giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng bị đe doạ hoặc đó là một nơi ẩn náu khi có điều kiện bất lợi xảy ra như hạn hán; 24
- Hỗ trợ 1% hoặc nhiều hơn nữa cho quần thể tự nhiên của bất kỳ các loài thực vật, động vật bản địa nào; Hỗ trợ các loài hoặc quần xã thực vật, động vật bản địa mà đang trong tình trạng bị đe doạ ở cấp quốc gia; Có tầm quan trọng văn hoá, lịch sử nổi tiếng. Kích thước, tính chất dòng chảy và khả năng liên kết của suối, sông và đất ngập nước cũng như tính cách ly và độ đặc hữu của các loài trong thuỷ vực lựa chọn để bảo vệ (vực nước vùng khô hạn, suối trên núi, hồ trên núi cao) là điều kiện quan trọng cần cho bảo tồn có hiệu quả các loài thực vật, động vật. b. Bối cảnh vùng lưu vực Giữa vùng nước và vùng lưu vực có mối quan hệ rất khăng khít đồng thời cũng có mối liên hệ giữa nước mặt và nước ngầm. Do đó, bảo vệ đa dạng sinh học của vùng nước còn phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý vùng lưu vực. c. Bối cảnh văn hoá-xã hội Giá trị và chức năng của HST vùng nước vượt ra khỏi phạm vi chỉ lưu giữ tài nguyên đa dạng sinh vật, còn mở rộng tới bối cảnh môi trường văn hoá-xã hội cũng như vùng lưu vực. Cộng đồng địa phương thường có quyền duy trì sự quản lý tài nguyên theo phong tục của họ và sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ vùng nước là quan trọng. Tóm lại, có thể thấy một khung thể chế và chính sách quốc gia của Ô-strây- li-a được thiết lập bởi cộng đồng và chính phủ để phát triển một mạng lưới bảo tồn vùng nước theo hệ thống và có cơ sở khoa học nhằm bảo vệ, quản lý và phục hồi các HST vùng nước có giá trị bảo tồn cao. 2.2.2. Tình hình các khu BTVNNĐ trong khu vực Đông Nam Á Việc xây dựng các khu BTTN trên đất liền, trong đó có các khu BTVNNĐ ở khu vực Nam á và Đông Nam chỉ được đẩy mạnh từ những năm 80 thế kỷ trước, sau Hội Nghị về các Công viên Quốc gia lần thứ III ở Bali (Indonesia) năm 1982. Sau Hội nghị này chỉ trong khoảng 10 năm, đã có tới trên 500 khu bảo tồn được thành lập trong khu vực chiếm tới 13 triệu ha diện tích. Cho tới những năm 90 đã có tới trên 850 khu BTTN được xây dựng, trong đó nhiều nhất là các Công viên Quốc gia , Khu bảo tồn loài/nơi cư trú. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là trong số này, chủ yếu là các khu bảo tồn rừng trên cạn, các khu BTVNNĐ về nguồn lợi thuỷ sản còn rất ít, hoặc chỉ là một bộ phận nằm chung trong các Công viên Quốc gia với thành phần rừng trên cạn là chủ yếu. Qua hơn 30 năm xây dựng và hoạt động bảo tồn thiên nhiên trong khu vực, trong đó có các Khu BTVNNĐ, để đạt hiệu quả của các hoạt động này, có thể rút ra một số bài học sau. a) Phải tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng các địa phương. b) Việc thiết lập các KBT phải gắn với kế hoạch phát triển tổng thể về kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực. Rất nhiều KBT ở ấn Độ, Srilanka được xây dựng 25
- theo tinh thần này. Trong vùng hạ lưu sông Mekong, các khu BTTN thường được xây dựng gắn liền với các Chương trình phát triển, quản lý nguồn nước ở các quốc gia này. c) Trong xây dựng, sử dụng và quản lý các khu BTTN, cần hết sức chú ý tới mặt tiêu cực của việc phát triển du lịch thiếu kiểm soát trong các khu BTTN. Đã có nhữngVQG bị suy thoái môi trường do phát triển cơ sở hạ tầng cho du lịch thiếu quy hoạch. d) Sự tham gia của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) kết hợp với cộng đồng dân cư vào xây dựng và hoạt động của các khu BTTN là một kinh nghiệm tốt, trong khi các Chính phủ thường không đủ khả năng bảo đảm nguồn kinh phí cho xây dựng và hoạt động của các khu bảo tồn. đ) Cần chú ý tới việc đào tạo kịp thời nguồn nhân lực cần thiết để có thể sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài. Các bài học trên đưa tới một kết luận chung là: Trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á hiện nay, hệ thống khu BTTN đang phát triển và dần trở thành một bộ phận của sự phát triển các quốc gia. Cần tạo mọi điều kiện để các khu BTTN thực hiện được vai trò này, trong đó điều quan trọng là sự liên kết chặt chẽ của khu BTTN với cộng đồng dân cư địa phương trong hoạt động. Tình hình các khu BTVNNĐ trong vùng hạ lưu sông Mê Kông Để có được những ý tưởng và kinh nghiệm về xây dựng và quản lý các khu BTVNNĐ ở Việt Nam, có thể tìm hiểu vấn đề này ở vùng hạ lưu sông Mekong, mà Việt Nam là một bộ phận. Thuỷ sản nước ngọt (cá và sinh vật ngoài cá) là nguồn thực phẩm động vật quan trọng của dân cư vùng hạ lưu Mekong. Thủy sản cùng với lúa gạo giữ vai trò chủ chốt bảo đảm an toàn lương thực cho cư dân vùng này (G. Claridge, 2003). Mức độ sử dụng cá của dân Campuchia từ 10-30 kg/đầu người ở miền núi và tới 70 kg/đầu người ở vùng hồ lớn (Tonle sap). Ở Lào, thủy sản nội địa chiếm tới 10%-90% nhu cầu protein của người dân. ở vùng núi Thái Lan, tỷ lệ này là 50%. Hàng năm, khoảng 1,5 triệu tấn thủy sản được khai thác từ các thủy vực tự nhiên và 240.000 tấn từ các thủy vực nhân tạo. Sự tăng dân số ở vùng nông thôn, nơi thủy sản là nguồn thực phẩm chủ yếu trong đời sống dẫn tới sự gia tăng khai thác đã làm tăng áp lực lên nguồn lợi và do đó, đã nâng cao tầm quan trọng của việc thiết lập các KBT để bảo vệ trữ lượng cá. Theo nhận định của các chuyên gia, mối đe doạ chủ yếu đối với nguồn lợi thủy sản ở vùng này là sự thay đổi chế độ thủy học, cả về lưu lượng và chất lượng nước do việc phá rừng và xây các đập chắn trên sông, ngăn đường di cư của cá (G. Claridge). Trong khoảng 35 năm gần đây, hơn 30 hồ chứa lớn và khoảng 20.000 hồ chứa nhỏ đã được xây dựng trên hệ thống sông Mekong vùng hạ lưu, sông còn rất ít được đánh giá tác động đối với nguồn lợi thủy sản nội địa. Việc đánh giá tác động thường mới chỉ thu hẹp ở vùng xây dựng đập, chưa chú ý tới tác động ở cả 26
- vùng dưới đập, đối với sản lượng cá và cả đối với nơi cư trú (nơi sinh sản, trú ẩn) của cá. Trên thực tế, chưa có một sự phối hợp, một kế hoạch đồng bộ trong việc xây dựng đập với việc bảo tồn rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng. Một nguyên nhân khác đe dọa nguồn lợi thủy sản nội địa vùng này là chính quyền các quốc gia dường như quá chú trọng tới việc phát triển, quản lý nghề nuôi cá, mà còn ít chú ý tới tầm quan trọng của nguồn lợi thủy sản thiên nhiên ở địa phương và quốc gia, ít quan tâm tới tình hình giảm sút nguồn lợi đang có nguy cơ ngày càng lớn. Chính các khu BTVNNĐ có khả năng tạo ra nhiều nhân tố có ý nghĩa tích cực đối với việc bảo vệ trữ lượng, duy trì sản lượng thủy sản nội địa trong khu vực, trong đó có hai nhân tố quan trọng: bảo đảm con đường di cư của cá trên sông và bảo đảm các nơi cư trú quan trọng cho việc kiếm mồi, sinh sản cho cá trong mùa lũ ở vùng này. - Bảo đảm đường di cư của cá trên sông Do đặc tính sinh lý-sinh thái phải thay đổi điều kiện sinh thái môi trường qua từng giai đoạn của đời sống, đặc biệt là giai đoạn sinh sản, nên nhiều nhóm cá ở vùng này phải di cư đường ngắn hoặc đường dài dọc theo sông trong mùa lũ. Các loài cá có giá trị kinh tế lớn như Cá da trơn (Pangasius spp.) có khi đường di cư xa tới 500-1.000 km, qua biên giới nhiều nước. Nhóm cá này chiếm tới 60% sản lượng cá vùng này. Từ tình hình này, cần có những biện pháp bảo vệ nguồn lợi bằng những KBT được xây dựng ở những nơi xung yếu trên đường di cư của cá, cùng với những vùng cấm khai thác, do ngư dân và cộng đồng dân cư cùng phối hợp quản lý. - Bảo đảm nơi cư trú quan trọng Sự di cư thực chất là sự liên kết sinh thái giữa các vùng cư trú quan trọng trong đời sống của mỗi loài, bắt buộc phải được thực hiện theo thời gian. Vùng lũ có diện tích tới 700.000 km2, chiếm tới 11% diện tích vùng hạ lưu Mekong – là nơi cá kiếm ăn và sinh sản. Sự thay đổi vùng lũ, do sự ngăn cản dòng lũ bởi các công trình thuỷ lợi, thủy điện trên sông, dễ ảnh hưởng tới sản lượng cá. Theo tính toán, sản lượng cá ở vùng lũ trong một mùa lũ 4-5 tháng có thể nhiều gấp đôi sản lượng cá trong một hồ nước thường trực có cùng diện tích, có khi còn cao hơn cả sản lượng cá trong cùng diện tích của một vùng biển có sản lượng cao trên thế giới. Các vũng sâu hình thành trên các phụ lưu sông là nơi trú ẩn của cá trong mùa khô và là nơi ương cá con rất quan trọng với nhóm cá chép và cá da trơn ở vùng này. Rất nhiều vũng sâu loại này trên sông Mê kông đang được bảo vệ bằng các khu bảo tồn. Các thác nước cũng là nơi cư trú quan trọng cho nhiều loài cá, sinh sản, kiếm mồi và sống trong giai đoạn đầu của đời sống ở đây. Một số loại hình khác theo kiểu Vùng dự trữ nguồn lợi cá cũng đã hình thành ở các vùng ngập lũ. Năm 1989, Bộ Nông nghiệp Campuchia đã thành lập vùng dự trữ nguồn lợi cá gồm các vũng sâu dọc sông Mekong các tỉnh Kratie và Stung Treng, ở đây cấm đánh cá để bảo vệ nơi sinh sản của cá: Những vùng dự trữ tương tự cũng được hình thành ở các vùng sâu trong hồ Tonlesap. ở Lào, các vùng dự trữ nguồn lợi cá cũng được thành lập ở tỉnh Luang Prabang. Ngoài ra, các khu bảo tồn nhỏ còn được thành lập ở 59 bản ở Lào, phối hợp hoạt động với các vũng 27
- sâu trên sông Mêkong từ 1993 tới 1997. Các khu này được cơ quan nhà nước quản lý, với sự hỗ trợ của các NGO. Một hình thái khu bảo tồn truyền thống đã có từ lâu đời ở Campuchia và cả Thái Lan trước đây, đó là hệ thống các “Lô đánh cá có quản lý“. Đây là các khu vực đánh cá với những qui định về việc bảo vệ nguồn lợi, do cộng đồng dân cư địa phương đặt ra và quản lý, như về điều kiện đánh cá và bảo vệ rừng ngập nước trong khu vực. Hình thức này đã tồn tại từ nửa cuối thế kỷ 19, gồm 5 kiểu lô, nằm trong vừng hồ Tonlesap, vùng ngập lũ sông Mekong và sông Bassac, trong các tỉnh Kongpongcham và Kratie. Hình thức quản lý này rất có hiệu quả và được một số chuyên gia đánh giá cao. Đáng tiếc là hình thức này đã bị suy thoái trong những năm gần đây do tệ tham nhũng trong quản lý, do mâu thuẫn giữa các chủ lô và cộng đồng dân cư địa phương. Tháng 10/2000, chính phủ Campuchia đã quyết định thu lại 54% diện tích các lô khai thác giao cho các động đồng dân cư. Năm 2001, Chính phủ Campuchia ban hành sắc luật về tổ chức cộng đồng nghề cá . Theo ý kiến của các chuyên gia, để duy trì được sản lượng thủy sản tự nhiên ở vùng hạ lưu Mekong, cần có chiến lược phục hồi và bảo vệ nguồn lợi ở vùng này. Trọng tâm của chiến lược này là xây dựng một mạng lưới các KBT lớn ở đầu nguồn, vùng ngập lũ và trên dòng chính sông Mekong. Chiến lược này phải thừa nhận rằng: tương lai của nghề cá vùng này gắn chặt với sự bền vững của nguồn lợi thuỷ sản và nơi cư trú của cá trong một mạng lưới các khu bảo tồn đã và sẽ có. Chiến lược này phải bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu sau: 1. Hướng dẫn việc xác định các khu vực nghề cá cần được bảo vệ. 2. Thống kê và lập bản đồ các KBT đã có và các KBT khác có đóng góp cho việc bảo vệ nguồn lợi cá. 3. Xây dựng các tiêu chuẩn cho những khu vực ưu tiên phải bảo vệ. 4. Xác định các thứ hạng có thể được lựa chọn cho các KBT vùng này và hướng dẫn việc quản lý cho từng thứ hạng. Kinh nghiệm quản lý Biển hồ Tonlesap-Khu dự trữ sinh quyển Tonlesap là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam á, nằm ở vùng ngập lũ miền Trung Campuchia. Đặc điểm chế độ thuỷ học của hồ này là hàng năm có một mùa lũ làm nước hồ dâng cao từ 1m tới 8-9m diện tích mặt hồ tăng từ 2.500 km2 tới 10.000km2, khối nước từ 1.300 triệu tới 70.000 triệu m3. Chế độ nước này tạo nên một nguồn thuỷ sản phong phú cho nền kinh tế quốc gia, nuôi sống gần 1/5 số dân Campuchia, với khoảng 1 triệu dân làm nghề cá. Có thể nói rằng, Tonlesap có một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, đời sống và cả văn hoá của đất nước Campuchia. Do tính chất quan trọng này, chính phủ Campuchia đã xếp hạng Tonlesap là một Khu dự trữ sinh quyển (Khu DTSQ) trong Chương trình MAB của UNESCO từ tháng 10/1997. Dựa trên đặc điểm thảm thực vật, việc sử dụng đất và hiện trạng tài nguyên sinh vật Khu DTSQ Tonlesap được phân vùng như sau: 28
- a/ Vùng lõi: Gồm 3 khu vực trung tâm hồ, hợp thành một vùng đồng nhất về sinh thái, có đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản có giá trị cao, nằm trong vùng rừng ngập nước dự trữ, với cả một hệ thống sông. Trong vùng này có khoảng 100 loài chim nước sinh sống, với 12 loài có giá trị quốc tế. Ngoài nguồn lợi cá, còn có các loại thủy sản có giá trị khác, như : cá sấu, rùa, trăn, rắn, tôm cua Trong vùng này, có khoảng 2.000 dân, khai thác cá, săn bắn và kiếm củi. b/ Vùng đệm: Nằm trong vùng rừng ngập nước rộng, có nguồn lợi sinh vật cao, nhất là cá. Vùng đệm được phân thành các lô khai thác cá, được bán đấu giá trong thời hạn 2 năm cho doanh nghiệp tư nhân. Các hoạt động kiếm sống khác là: trồng trọt, vận tải thuyền, nuôi cá, kiếm củi. Số dân trong vùng này khoảng 100.000 người. c/ Vùng chuyển tiếp: Là vùng nông nghiệp bao quanh hồ, với nghề trồng lúa là phố biển. Sự phát triển đô thị, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là những mối đe doạ cho rừng ngập nước và chất lượng môi trường nước vùng này. Có thể thấy nguồn lợi thuỷ sản bao gồm các quần thể thuỷ sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học sống trong môi trường nước hoặc có từng thời kỳ sống trong nước hoặc có mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với thuỷ vực. Nguồn lợi thuỷ sản nói riêng, quần xã thuỷ sinh vật nói chung sẽ tồn tại và phát triển trong môi trường sống ở vùng nước được bảo đảm và cân bằng dưới các tác động của tự nhiên và con người. Từ đó, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nội địa chỉ thực hiện được khi bảo vệ toàn bộ các giá trị sinh thái, môi trường sống của vùng nước phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội ở địa phương. Chính vì quan niệm như vậy cho nên hầu hết các quốc gia đều xây dựng hệ thống bảo tồn thuỷ vực nội địa mà trong đó, bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản được xem là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Từ những kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như đã trình bày ở trên thấy rằng công tác xây dựng các khu BTVNNĐ đã được thực hiện ở các mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đều có mục tiêu cơ bản là bảo tồn đa dạng thuỷ sinh vật trong đó có phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản cũng như bảo vệ các nơi sinh cư quan trọng, có ý nghĩa sống còn với đời sống thuỷ sinh. Tất cả nhằm phục vụ lâu dài cho đời sống của cư dân địa phương nói riêng và phát triển bền vững kinh tế-xã hội của đất nước nói chung. 2.2.3. Kinh nghiệm trong nước về xây dựng các KBTVNNĐ Để bảo tồn ĐDSV nói chung, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng rất nhiều loại hình bảo tồn như hệ thống các vườn Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu bảo tồn đất ngập nước Ramsar, các khu bảo tồn biển. Một số các khu Dự trữ sinh quyển, các khu Di sản thế giới của Việt Nam được tổ chức quốc tế UNESCO công nhận. Ngày 13 tháng 10 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1479/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020. Theo đó, quyết định ban hành thành lập 16 khu bảo tồn cấp quốc gia và 29 khu bảo tồn cấp tỉnh với mục tiêu: Từng bước hình thành hệ thống các khu bảo tồn nhằm bảo vệ, phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các 29
- giống loài thủy sản quý hiếm, có giá trị kinh tế và khoa học cao, bảo vệ các hệ sinh thái thủy sinh tại các vùng nước nội địa; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi, bảo đảm cân bằng sinh thái, giữ gìn đa dạng sinh học các vùng nước nội địa ở mức độ cao. Cho đến nay đã có 5 khu bảo tồn được xây dựng cơ sở khoa học và căn cứ trình Chính phủ ban hành quy hoạch chi tiết cho các khu bảo tồn cấp Quốc gia: Thứ nhất: Khu bảo tồn vùng nước nội địa Hồ Lắc Thứ hai: Khu bảo tồn thủy sản nội địa Mũi Cà Mau Thứ ba: Khu bảo tồn vùng nước nội địa ngã ba sông Đà – Lô – Thao Thứ tư: Khu bảo tồn vùng nước nội địa Cửa sông Hồng Thứ năm: Khu bảo tồn vùng nước nội địa cửa sông Hậu Đồng thời nhiều địa phương cũng đã và đang triển khai xây dựng quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn và chi tiết các khu bảo tồn vùng nước nội địa cấp tỉnh như: Thanh Hóa, Quảng Nam, Cà Mau, Đắc Lắc, Bằng nỗ lực của các địa phương và Chính phủ đã thành lập 4 khu bảo tồn đất ngập nước có ý nghĩa Quốc tế(4 khu Ramsar): RAMSAR là tên viết tắt của Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế công nhận các khu bảo tồn thiên nhiên là các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế nhằm sử dụng bền vững chúng. Khu RAMSAR Xuân Thuỷ nằm trong Vườn quốc gia Xuân Thủy: Tháng 01/1989 Vùng bãi bồi ở cửa sông ven biển thuộc huyện Xuân Thuỷ được UNESCO chính thức công nhận gia nhập công ước Ramsar (Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi di trú của những loài chim nước).Đây là điểm Ramsar thứ 50 của thế giới, đầu tiên của Đông Nam Á, độc nhất của Việt Nam suốt 16 năm (Tới năm 2005, Việt Nam mới có khu Ramsar thứ 2 là khu Bàu Sấu của VQG Cát Tiên ở tỉnh Đồng Nai) Khu RAMSAR Bàu Sấu thuộc vườn quốc gia Cát Tiên: Ban Thư ký Công ước Ramsar tại Thụy Sĩ đã công nhận hệ đất ngập nước Bàu Sấu (vườn quốc gia Cát Tiên) có tầm quan trọng quốc tế thứ 1499 của thế giới theo danh sách Ramsar đồng thời là khu Ramsar thứ hai của Việt Nam. Vùng đất ngập nước Bàu Sấu và các vùng đất ngập nước theo mùa của vườn quốc gia Cát Tiên (gọi tắt là hệ đất ngập nước Bàu Sấu) có diện tích 13.759ha, bao gồm 5.360ha đất ngập nước theo mùa và 151ha đất ngập nước quanh năm. Còn lại là các diện tích thấp hơn 115m so với mặt nước biển. Toàn bộ hệ đất ngập nước Bàu Sấu nằm ở vị trí trung tâm khu Nam Cát Tiên, vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai). Khu RAMSAR Hồ Ba Bể: Trước đó, Tổng thư ký Công ước Ramsar Anad Tiega đã ký công nhận hồ Ba Bể là vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới. Sự kiện này đưa hồ Ba Bể (Bắc Kạn) trở thành khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam.Khu Ramsar quốc gia Ba Bể có hồ rộng khoảng 500ha trên độ cao 178 m so 30
- với mặt biển. Đây là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam. Khu RAMSAR Tràm Chim: khu Ramsar thứ 4 ở Việt Nam, cùng với vườn quốc gia Xuân Thủy tại Nam Định, vùng ngập nước Bàu Sấu tại Đồng Nai và khu hồ Ba Bể tại Bắc Kạn. Vườn quốc gia Tràm Chim, có tổng diện tích 7.588 ha, là một trong tám khu vực bảo tồn các loài chim quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay. Tràm Chim đã đáp ứng được 8 trong số 9 tiêu chuẩn của Công ước quốc tế Ramsar về đất ngập nước. Đây cũng là một trong tám vùng chim quan trọng nhất của Việt Nam và là nơi duy trì sự đa dạng sinh học cho cả vùng Đồng Tháp Mười. Tràm Chim là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài chim nướcc, trong đó có 13 loài chim quý hiếm của thế giới. Sếu đầu đỏ (Grus antigone) hay sếu cổ trụi là một trong những loài chim quý hiếm của thế giới trong Tràm Chim. 2.2.4. Tiêu chí lựa chọn khu BTVNNĐ theo luật ĐDSH và Nghi định 65 2.2.4.1.Tiêu chí xác định cácKBTVNNĐ theo luật đa dạng sinh học và Nghị định 65 1. Khu dự trữ thiên nhiên cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên trên địa bàn. Khu dự trữ thiên nhiên cấp tỉnh là khu bảo tồn đáp ứng các tiêu chí chủ yếu sau đây: a) Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với địa phương, hệ sinh thái đặc thù hoặc đại diện cho các hệ sinh thái của địa phương đó; b) Có giá trị đặc biệt về sinh thái, môi trường phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng. 2. Khu bảo tồn loài – sinh cảnh cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo tồn các loài hoang dã trên địa bàn. Khu bảo tồn loài – sinh cảnh cấp tỉnh là khu bảo tồn đáp ứng các tiêu chí chủ yếu sau đây: a) Là nơi sinh sống thường xuyên hoặc theo mùa của các loài hoang dã thuộc Danh mục cấm khai thác ngoài tự nhiên, nơi sinh sản, tránh rét của các loài di cư; b) Có giá trị đặc biệt về sinh thái, môi trường phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng. 3. Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo vệ cảnh quan trên địa bàn Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh là khu bảo tồn đáp ứng các tiêu chí chủ yếu sau đây: a) Có cảnh quan môi trường, nét đẹp, độc đáo của thiên nhiên nhưng không đáp ứng các tiêu chí thành lập khu bảo vệ cảnh quan cấp quốc gia; b) Có giá trị đặc biệt về sinh thái, môi trường phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng. 31
- 2.2.4.2.Tiêu chí xác định các khu bảo tồn vùng nước nội địa (vùng Đất ngập nước) có ý nghĩa Quốc gia, quốc tế Bảng10: Các tiêu chí để xác định các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế nhằm đề xuất khu Ramsar Tiêu chí Dựa trên Tiêu chí 1: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng Nhóm A: cơ quốc tế nếu vùng đó bao gồm các loài động, thực vật sở tính quý hiếm, đặc trưng và điển hình xét về đặc tính tự đại diện nhiên hoặc gần với tự nhiên của vùng ĐNN, mà được / tính tìm thấy trong khu vực sinh địa lý thích hợp đặc trưng Tiêu chí Các tiêu Tiêu chí 2: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng Nhóm B: chí dựa quốc tế nếu nó đóng vai trò hỗ trợ cho các hệ sinh Các vùng trên thái đang bị đe doạ, hoặc các loài có nguy cơ bị nguy có tầm chủng hiểm hoặc cực kỳ nguy hiểm quantrọng loại và Tiêu chí 3: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế hệ sinh quốc tế nếu nó đóng vai trò hỗ trợ cho các loài trong thái động, thực vật có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo việc duy trì đa dạng sinh học tại một vùng sinh địa lý cụ tồn đa thể dạng sinh học Tiêu chí 4: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò hỗ trợ cho các loài động, thực vật đang trong giai đoạn quyết định trong vòng đời, hoặc cung cấp nơi trú ẩn cho các loài này khi chúng gặp những điều kiện nguy hiểm Các tiêu Tiêu chí 5: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng chí dựa quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ từ 20.000 cá thể trêncác loài chim nước trở lên. loài chim Tiêu chí 6: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng nước quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài chim nước. Các tiêu Tiêu chí 7: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng chí đặc quốc tế nếu nó hỗ trợ một tỷ lệ đáng kể các loài, phân biệt căn loài và các họ cá bản địa, các giai đoạn lịch sử trong cứ trên vòng đời, sự tương tác giữa các loài và/ hoặc số cơ sở lượng mà có tính đại diện cho lợi ích của vùng ĐNN loài cá và/ hoặc các giá trị và bằng cách ấy, đóng góp vào sự đa dạng sinh học của toàn cầu. Tiêu chí 8: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó cung cấp một nguồn thức ăn quan trọng cho các loài cá, là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và/ 32
- hoặc đường di cư mà nhờ đó các loài cá có thể sinh sôi nảy nở tại vùng ĐNN hay ở nơi khác tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể.Tiêu chí đặc biệt dựa vào taxon Tiêu chí 9: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài động vật, phi gia cầm sống phụ thuộc vào vùng ĐNN. 2.2.4.3. Các bước tiến hành được đề xuất Tổng hợp kinh nghiệm quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa trong và ngoài nước cho thấy việc lựa chọn các vùng nước nội địa, các khu vực càn bảo tồn cần thiết phải qua các bước sau đây: Bảng 11: Kiểm tra và sàng lọc các khu thuỷ vực dự kiến đề xuất Thuỷ vực bảo vệ liệu có đặc trưng cho kiểu HST nào với Hệ sinh thái các chức năng và tính chất Kiểu sinh cảnh/nơi cư trú điển hình trong HST, hồ, sông, Các sinh suối, kiểu địa hình đáy, chất đáy liên quan tới các khu đẻ cảnh/nơi cư trú trứng, sinh trưởng Quần xã sinh Quần xã sinh vật có thể hiện tính đặc trưng của thuỷ vực vật cần được bảo vệ Trong thuỷ vực có các loài quý hiếm, có giá trị kinh tế và Các loài khoa học. Đặc tính địa Thuỷ vực có chứa đựng các quần thể sinh vật thể hiện đặc động vật tính địa động vật, tính địa phương (đặc hữu) Thuỷ vực lựa chọn đã là đại diện cho một trong các loại hình thuỷ vực tiêu biểu hiện có hay chưa như: Hồ tự Tính đại diện nhiên, Hồ chứa nước, Sông, Suối, sông, vùng nước lợ, cửa sông, ven biển Thuỷ vực có tính đa dạng sinh học cao thể hiện ở thành Tính ĐDSH phần loài, các taxon giống, họ, bộ, lớp, ngành. Thuỷ vực có đầy đủ các điều kiện về môi trường tự nhiên Tầm quan trọng cho thực hiện đầy đủ các quá trình sinh thái diễn ra. Thực sinh thái hiện cân bằng các dịch vụ sinh thái. Đặc điểm kinh Thuỷ vực được lựa chọn hiện có những áp lực về khai tế-xã hội vùng thác thuỷ sản và các mức độ tác động tới nguồn lợi và lưu vực ĐDSH của thuỷ vực. Thuỷ vực được lựa chọn là một kiểu HST đặc trưng có ý Ý nghĩa khoa nghĩa cho nghiên cứu giáo dục ở các môn Sinh thái học học, giáo dục thuỷ vực và môi trường 33
- 2.3. Hiện trạng tình hình kinh tế xã hội vùng RNM Bà Rịa - Vũng Tàu 2.3.1. Vai trò giá trị của Rừng ngập mặn Rừng ngập mặn (RNM) không những có tác dụng lớn là bảo vệ bờ biển, hạn chế tác hại của thiên tai mà nguồn lợi trong hệ sinh thái cũng rất quan trọng, tác dụng của mùn bã thực vật ngập mặn trong chuỗi thức ăn. Rừng ngập mặn là nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng của nhiều loài thủy sản trong từng giai đoạn phát triển hoặc suốt vòng đời của chúng qua quá trình chuển hóa các chất rơi rụng và phân hủy mùn bã thành chất dinh dưỡng. Mặt khác rừng ngạp mặn cũng đóng góp đáng kể trong việc cung cấp thức ăn, làm sách môi trường, bảo vệ các đối tượng nuôi như tôm, cua, sò Tài nguyên thủy sản không chỉ được khai thác trực tiếp mà còn cả một vùng ven biển rộng lớn xung quanh. Tuy nhiên, nhận thức về hệ sinh thái RNM vẫn chưa đầy đủ, tình trạng là suy giảm diện tích RNM còn diễn ra ở nhiều nơi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Cho nên, việc quản lý bền vững hệ sinh thái này là trách nhiệm của chính quyền địa phương, các ngành nông lâm ngư nghiệp và cộng đồng dân cư ven biển. RNM là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, ấu thể hải sản RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú , nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu. Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua có một hoặc một số giai đoạn bắt buộc phải sống trong vùng nước nông, cửa sông có rừng ngập mặn. Ví dụ điển hình là vòng đời của loài tôm thẻ có tập tính là đẻ ở biển cách xa bờ 12km, do tác động của dòng nước và thay đổi của nước triều, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần vào cửa sông theo nước triều lên thường tìm những vùng nước nông co giá bám như bụi cỏ, rễ cây , sau đó đi sâu vào kênh rạch RNM. Chúng sinh trưởng và phát triển ở đó đến khi thành thục, thường ở đây 3 – 4 tháng. Ở giai đoạn trưởng thành chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ. RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ, vừa là nơi nuôi dưỡng con non. Cá đối cũng có tập tính đẻ ngoài biển, sau đó con non theo nước triều đi vào kênh rạch RNM, thức ăn chủ yếu là mùn bã phan hủy từ cây RNM. Người ta thường gặp từng đàn cá đối, có khi với khối lượng rất lớn trong các kênh rạch RNM.Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống, vừa là nơi cung cấp thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể sản lượng thủy sản. Như vậy các loài sống trong vùng RNM đã tạo thành chuỗi thức ăn: Có loài ăn mùn bã hữu cơ, loài có kích thước lớn ăn loài có kích thước nhỏ, tôm cá nhỏ là thức ăn của cá lớn Chính vì vậy tạo nên một vùng phong phú về thức ăn và nguồn lợi thủy sản, đây còn là nơi trú ẩn an toàn của các đối tượng trong thời kỳ con non, ương dưỡng. Hệ sinh thái RNM đượ coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản. Tác dụng của RNM trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần RNM có chức năng chống lại sự tàn phá của sóng thần nhờ hai phương thức khác nhau. Thứ nhất, khi năng lượng sóng thần ở mức trung bình, những cây ngập mặn vẫn có thể đứng vững, bảo vệ hệ sinh thái của chính mình và bảo vệ cộng 34
- đồng dân cư sinh sống đằng sau chúng. Có được như vậy là vì các cây ngập mặn mọc đan xen lẫn nhau, rễ cây phát triển cả trên và dưới mặt đất cộng với thân và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán sức mạnh của sóng thần. Thứ hai, khi năng lượng sóng thần đủ lớn để có thể cuốn trôi những cánh RNM thì chúng vẫn có thể hấp thụ nguồn năng lượng khổng lồ của sóng thần bằng cách hy sinh chính mình để bảo vệ cuộc sống con người. Rễ cây ngập mặn có khả năng phát triển mạnh mẽ cả về mức độ rậm rạp và sự dàn trải. Khi cây ngập mặn bị đổ xuống thì rễ cây dưới mặt đất tạo ra một hệ thống dày đặc ngăn cản dòng nước. Tổ chức “Friend of the Earth” cho rằng, bảo vệ những cánh RNM là cách giải quyết duy nhất để bảo vệ dân cư vùng ven biển chống lại sóng và các đe doạ khác trong tương lai (Scheer 2005). Theo khảo sát của IUCN (2005) tại những vùng bị tác động của sóng thần cho thấy: những vùng ven biển có RNM rậm, có các vành đai cây phòng hộ như phi lao, dừa, cọ thì thiệt hại về người và tài sản ít hơn rất nhiều so với những nơi mà các hệ sinh thái ven biển bị suy thoái, hoặc chuyển đổi đất sang mục đích sử dụng khác như nuôi tôm hay xây dựng khu du lịch. Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đê biển Việt Nam Từ đầu thế kỷ XX, dân cư ở các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng một số loài cây ngập mặn như trang và bần chua để chắn sóng bảo vệ đê biển và vùng cửa sông. Mặc dù thời kỳ đó đê chưa được bê tông hoá và kè đá như bây giờ nhưng nhờ có RNM mà nhiều đoạn đê không bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6 ÷ 8). Ở một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng 327 của chính phủ thì đê điều, đồng ruộng được bảo vệ tốt. Năm 2000, cơn bão số 4 (Wukong) với sức gió cấp 10 đổ bộ vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nước lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng. Nếu không trồng RNM chắn sóng thì đê Đồng Môn đã bị vỡ và thị xã Hà Tĩnh đã bị ngập sâu, thiệt hại do cơn bão này gây ra sẽ rất nặng nề. Tháng 7 năm 1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 ÷ 117km/s đổ bộ vào huyện Thái Thuỵ (Thái Bình) nhờ có dải RNM bảo vệ nên đê biển và nhiều bờ đầm không bị hư hỏng, trong lúc đó huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên các bờ đầm đều bị xói lở hoặc bị vỡ. Năm 2005, vùng ven biển huyện Thái Thuỵ tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóng cao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 650m đê nơi không có RNM ở thôn Tân Bồi, xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở xã này không bị xạt lở vì thảm cây dày đặc đã làm giảm đáng kể cường độ sóng. Ở Thái Thuỵ, có 10,5km đê biển được bảo vệ bởi RNM hầu như không phải sửa chữa, tu bổhàng năm kể từ khi RNM trưởng thành, khép tán. Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn Rễ cây ngập mặn chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng cửa sông ven biển. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt 35



