Đề cương chi tiết môn Triết hịc Mác-Leenin - Nguyễn Tiến Dũng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương chi tiết môn Triết hịc Mác-Leenin - Nguyễn Tiến Dũng", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_cuong_chi_tiet_mon_triet_hic_mac_leenin_nguyen_tien_dung.pdf
Nội dung text: Đề cương chi tiết môn Triết hịc Mác-Leenin - Nguyễn Tiến Dũng
- TẬP THỂ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN PGS. TS. Nguyễn Tiến Dũng GVC. TS. Nguyễn Văn Hòa GVC. Ths.Võ Ngọc Huy
- ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN I. Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin 1. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác 1.1. Tiền đề kinh tế-xã hội 1.2. Tiền đề lý luận 1.3. Tiền đề khoa học tự nhiên 2. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph. Ăngghen thực hiện II. Vật chất và ý thức 1. Nội dung và ý nghĩa của định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin 1.1. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin 1.2. Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin 2. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vận động của vật chất 2.1. Vận động là gì 2.2. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất 2.3. Các hình thức vận động cơ bản của vật chất 2.4. Vận động đứng im 3. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức 3.1. Nguồn gốc của ý thức 3.2. Bản chất của ý thức III. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 1.1. Nội dung của nguyên lý 1.2. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 2. Nguyên lý phát triển 2.1. Nội dung nguyên lý 2.2. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý phát triển IV. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật. 1. Cái riêng, cái chung 1.1. Khái niệm 1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 1.3. Những ý nghĩa về phương pháp luận 2. Nguyên nhân và kết quả 2.1. Khái niệm 2.2. Một số tính chất của mối liên hệ nhân quả 2.3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 2.4. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận 3. Tất nhiên và ngẫu nhiên 2.1. Khái niệm 2.2. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên 2.3. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận 4. Nội dung và hình thức 4.1. Khái niệm 1
- 4.2. Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức 4.3. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận. 5. Bản chất và hiện tượng 5.1. Khái niệm 5.2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng. 5.3. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận 6. Khả năng và hiện thực 6.1. Khái niệm 6.2. Phân loại các khả năng 6.3. Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực 6.4. Vai trò của điều kiện khách quan và chủ quan trong sự chuyển biến khả năng thành hiện thực 6.5. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận. V. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại 1.1. Khái niệm 1.2. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng 1.3. Ý nghĩa phương pháp luận 2. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 2.1. Khái niệm 2.2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển 2.3. Phân loại mâu thuẫn 2.4. Ý nghĩa phương pháp luận 3. Quy luật phủ định của phủ định 3.1. Khái niệm về sự phủ định và phủ định biện chứng 3.2. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định 3.3. Ý nghĩa phương pháp luận VI. Xã hội và tự nhiên 1. Khái niệm quy luật xã hội 2. Đặc điểm của quy luật xã hội 2.1. Tính khách quan 2.2. Tính tất yếu và tính phổ biến 2.3. Những đặc điểm khác VII. Hình thái kinh tế -xã hội 1. Các yếu tố tất yếu của sản xuất và đời sống 1.1. Hoàn cảnh địa lý 1.2. Dân số 1.3. Phương thức sản xuất-yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội 2. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 2.1. Khái niệm phương thức sản xuất 2.2. Nội dung quy luật 2.3. Sự vận dụng quy luật này ở nước ta hiện nay 3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội 3.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. 3.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 2
- 4. Hình thái kinh tế xã hội 4.1. Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội 4.2. Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên VIII. Giai cấp và đấu tranh giai cấp 1. Định nghĩa giai cấp của Lênin và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa 2. Nguồn gốc giai cấp 3. Kết cấu giai cấp IX. Nhà nước và cách mạng 1. Nguồn gốc và bản chất nhà nước 2. Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử 3. Vai trò của cách mạng xã hội trong sự phát triển của xã hội X. Ý thức xã hội 1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội 2. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội 2.1. Ý thức xã hội phản ảnh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định 2.2. Tính độc lập của ý thức xã hội XI. Vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin 1. Bản chất con người 1.1. Quan niệm về con người trong triết học trước Mác 1.2. Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người 2. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 2.1. Khái niệm cá nhân 2.2. Khái niệm nhân cách 2.3. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 2.4. Việc giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội ở nước ta hiện nay 3. Vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử 3.1. Khái niệm quần chúng nhân dân 3.2. Vai trò của quần chúng nhân dân TÀI LIỆU HỌC TẬP 1. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia - Giáo trình triết học Mác-Lênin - Nxb CTQG, H., 1999. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Giáo trình triết học Mác - Lênin - Nxb CTQG, H., 2002. 3. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia - Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh - Nxb CTQG, H., 2003. 3
- CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin. 2. Làm rõ thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện. 3. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và chỉ rõ những ý nghĩa khoa học của định nghĩa này. 4. Phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin về vận động của vật chất. 5. Phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức. 6. Phân tích nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và rút ra ý nghĩa phương pháp luận từ việc nghiên cứu nguyên lý này. 7. Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý nghĩa phương pháp luận từ việc nghiên cứu nguyên lý này. 8. Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận ? 9. Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. 10. Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. 11. Trình bày quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất. từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. 12. Phân tích nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. 13. Phân tích nội dung của cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên. Qua đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. 14. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. 15. Phân tích nội dung của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. 16. Phân tích mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù khả năng và hiện thực. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. 17. Phân tích đặc điểm của quy luật xã hội. 18. Phân tích các yếu tố tất yếu của quá trình sản xuất và đời sống. 19. Phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất. Từ đó rút ra ý nghĩa của việc vận dụng quy luật này trong thực tiễn ở nước ta hiện nay. 20. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. 21. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội là gì? Tại sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên? 22. Phân tích định nghĩa về giai cấp của Lênin. 4
- 23. Trình bày quan điểm của triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và kết cấu giai cấp. 24. Trình bày quan điểm của triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và bản chất nhà nước. 25. Phân tích các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử. 26. Phân tích vai trò của cách mạng xã hội trong sự phát triển của xã hội. 27. Trình bày quan điểm của Triết học Mác - Lênin về bản chất con người. 28. Trình bày quan điểm của Triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. 29. Trình bày quan điểm Triết học Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. 30. Làm rõ quan điểm của Triết học Mác - Lênin về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. 5
- NỘI DUNG ÔN TẬP I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 1. Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác Triết học Mác ra đời là do những đòi hỏi của thực tiễn chính trị-xã hội và là quá trình phát triển hợp quy luật của triết học và của nhận thức khoa học. Nó được chuẩn bị bởi những tiền đề cụ thể sau: 1.1.Tiền đề kinh tế-xã hội Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu. Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển mới nhờ tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản đã khẳng định địa vị thống trị về kinh tế của mình. Cùng với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài chính trị như một lực lượng độc lập. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho mâu thuẫn vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt. Trước hết, là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội với quan hệ sản xuất có tính chất tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Để giải quyết mâu thuẫn này, giai cấp vô sản đã đứng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Tiêu biểu như: cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyông (Pháp) năm 1831, Phong trào Hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30, cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Xilêdi năm 1844 ở Đức. Đặc biệt sự xuất hiện "Đồng minh những người chính nghĩa"- một tổ chức vô sản cách mạng. Để đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ngày càng phát triển mạnh mẽ từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị, từ tự phát đến tự giác đòi hỏi phải có một học thuyết khoa học, cách mạng soi đường chỉ lối. Học thuyết khoa học, cách mạng ấy chính là chủ nghĩa Mác, mà hạt nhân của nó là triết học Mác. Như vậy, thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là sự giải đáp về lý luận những vấn đề thời đại đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng. 1. 2. Tiền đề lý luận Sự ra đời triết học Mác chẳng những là sản phẩm tất yếu của những điều kiện kinh tế-xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX, mà còn là sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Mác ra đời là kết quả của sự kế thừa tất cả những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mà trước hết là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Đối với triết học cổ điển Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của Hêghen, khắc phục tính chất duy tâm, thần bí của nó. Đồng thời, hai ông còn cải tạo phép biện chứng ấy, đặt nó trên nền thế giới quan duy vật. C. Mác và Ph. Ăngghen còn kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình, máy móc, chưa triệt để của nó, làm giàu nó bằng phép biện chứng. Từ đó, C. Mác 6
- và Ph. Ăngghen xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ, đó chính là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học. Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học Anh với những đại biểu xuất sắc là A. Xmít và Đ. Ricácđô là một nhân tố không thể thiếu được góp phần hình thành nên quan niệm về duy vật lịch sử của triết học Mác. Trong chủ nghĩa Mác, những quan điểm triết học được hình thành không tách rời với những quan điểm chính trị-xã hội qua việc cải tạo một cách có phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S. Phuriê. Nhờ đó, triết học Mác trở thành vũ khí lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng. 1.3. Tiền đề khoa học tự nhiên Những thành tựu của khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng không thể thiếu được cho sự ra đời của triết học Mác. Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính chất hạn chế, chật hẹp và bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật. Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, nổi bật lên ba phát minh lớn: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hoá của Đácuyn. Các phát minh trên đây đã khẳng định thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, không sinh ra và không mất đi, nó chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác, khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới và khẳng định tính biện chứng của thế giới vật chất. Với những phát minh lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho "quan niệm mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: tất cả những gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả những gì cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu" 1. C. Mác và Ph. Ăngghen đã phân tích một cách sâu sắc các thành tựu của khoa học tự nhiên, khái quát chúng thành các quan điểm triết học và từ đó hình thành nên một học thuyết triết học thực sự khoa học- triết học duy vật biện chứng. Tóm lại, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn của giai cấp công nhân, đòi hỏi phải có một lý luận mới soi đường mà còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại; đồng thời, triết học Mác ra đời cũng là kết quả tất yếu của những trí tuệ thiên tài, những trái tim đầy nhiệt huyết cách mạng C. Mác và Ph. Ăngghen. 1 C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, t.20, tr. 471, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994 7
- 2. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph. Ăngghen thực hiện Sự ra đời của triết học Mác đã tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển của triết học nhân loại. Điều này được thể hiện ở các điểm chủ yếu sau đây: C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hòa với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học; tạo ra hình thức cao nhất của chủ nghĩa duy vật - chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo ra hình thức cao nhất của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật. Cố nhiên, trong các học thuyết triết học duy vật trước Mác đã chứa đựng không ít những luận điểm riêng biệt thể hiện tinh thần biện chứng; song do sự hạn chế của những điều kiện xã hội và trình độ phát triển của khoa học nên tính chất siêu hình vẫn là một nhược điểm chung của chủ nghĩa duy vật trước Mác. Trong khi đó, phép biện chứng lại được phát triển trong cái vỏ duy tâm thần bí của một số đại biểu triết học cổ điển Đức, đặc biệt là trong triết học của Hêghen. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác không phải là sự “lắp ghép” phép biện chứng của Hêghen với chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc. Để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C. Mác viết: "Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa”1. Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi tính hạn chế siêu hình, C. Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C. Mác và Ph. Ăngghen đã đưa quan điểm duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Đó là sự sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội (chủ nghĩa duy vật lịch sử): "Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”2. Đó là một cuộc cách mạng thực sự trong triết học về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà C. Mác và Ph. Ăngghen đã thực hiện trong triết học. Với sự ra đời của triết học Mác, vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học cũng biến đổi. Trung tâm chú ý của triết học Mác không chỉ giải thích thế giới, mà chủ yếu vạch ra những con đường, những phương tiện cải tạo thế giới. “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”3. Luận điểm đó của Mác nói lên sự khác nhau về chất giữa triết học của ông với các học thuyết triết học trước kia. “Khuyết điểm chủ yếu” của mọi học thuyết duy vật trước Mác là chưa có quan điểm đúng đắn về thực tiễn và chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về lịch sử nên nó chưa trở thành công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng cách mạng. 1 C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, t.23, tr. 35, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 2 V.I. Lênin, Toàn tập, t23, tr. 53, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980. 3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, tr. 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 8
- Triết học Mác đã khắc phục được những hạn chế đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để. Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển xã hội. Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác. Ở triết học Mác có sự thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng. Lợi ích của giai cấp công nhân không đối lập, mà phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử, vì vậy, giai cấp công nhân luôn luôn quan tâm đến sự nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan. Các nhà sáng lập ra triết học Mác không coi triết học của mình là những tri thức tuyệt đối, bất biến. Trái lại, nó là một hệ thống mở, luôn luôn đòi hỏi phải được không ngừng bổ sung và phát triển do những thành tựu của các ngành khoa học, hoạt động thực tiễn mang lại. Sự ra đời của triết học Mác làm thay đổi căn bản tính chất của triết học, đối tượng và mối quan hệ của nó với các khoa học khác. Truyền thống trước đó, triết học được coi là “khoa học của các khoa học”, hòa lẫn hoặc tách rời với các khoa học cụ thể. Khác với điều đó, triết học Mác không phải là “khoa học của các khoa học” không hòa lẫn vào các khoa học cụ thể mà cũng không tách rời chúng. Trong sự hình thành và phát triển của mình, triết học Mác không chỉ dựa trên sự khái quát thực tiễn xã hội, mà còn dựa trên sự khái quát những thành tựu của khoa học cụ thể (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội). Khoa học cụ thể cung cấp những tài liệu hết sức phong phú cho triết học Mác nghiên cứu các quy luật chung nhất của hiện thực khách quan. Ngược lại, triết học Mác lại trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển của các khoa học cụ thể. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ngày nay càng chứng tỏ sự cần thiết phải có tư duy biện chứng duy vật và ngược lại, phải phát triển lý luận triết học Mác dựa trên thành tựu của khoa học hiện đại. II. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1. Nội dung và ý nghĩa của định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin 1. 1 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin Tiếp thu tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX về mặt triết học, trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, V.I. Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” 1 Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau đây: 1.1.1 “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan " Phạm trù “vật chất” là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức. Do đó: 1 V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, tr.151, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980. 9
- - Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. - Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường. Về mặt nhận thức luận, V.I. Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đối lập với nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với nó). Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng, mà nêu bật đặc tính nhận thức luận cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan. Đó chính là “thực tại khách quan”. Thực tại khách quan là tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và không lệ thuộc vào ý thức của con người. Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất. Vật chất - cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức. Phạm trù vật chất trong định nghĩa này, phải được hiểu bao gồm tất cả những gì tồn tại và không lệ thuộc vào ý thức. Như vậy, vật chất với tư cách là phạm trù triết học, nó chỉ thực tại khách quan nói chung, nó là vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi. Còn vật chất với tư cách là phạm trù khoa học cụ thể, đó là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất, đều có giới hạn, sinh ra, mất đi để chuyển hóa thành cái khác. Vì vậy, không thể quy vật chất về vật thể, không thể đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất giống như quan niệm của các nhà duy vật trước Mác. 1.1.2. “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác” Điều đó khẳng định vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là cái có sau, vật chất đóng vai trò quyết định nguồn gốc và nội dung khách quan của ý thức. Bởi vì, thực tại khách quan (vật chất là thực tại khách quan) đưa lại cảm giác cho con người, chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan. Đến đây, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 1.1.3. “Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Điều này khẳng định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực khách quan. Đến đây, định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. - Vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp, do đó về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi. - Nguồn gốc của cảm giác là từ thế giới ở bên ngoài, khi sự vật tác động vào giác quan của con người thì con người có cảm giác về chúng. Bằng các phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đồng thời chỉ ra rằng, vật chất phải được hiểu tất cả những cái 10
- gì tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được. 1. 2. Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I. Lênin Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã giải đáp một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin đã khắc phục được tính chất trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác, đồng thời kế thừa, phát triển được những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vật chất. Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin là cơ sở khoa học và là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả. Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất; định hướng, cổ vũ họ tin ở khả năng nhận thức của con người tiếp tục đi sâu khám phá những thuộc tính mới của vật chất, tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới. Định nghĩa này còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử. 2. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vận động của vật chất 2.1. Vận động là gì Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Ph. Ăngghen viết: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”1. 2.2. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất Vật chất và vận động không tách rời nhau. Ở đâu có vật chất thì ở đó có vận động, và ở đâu có vận động thì ở đó phải có vật chất. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào, dù trong tự nhiên hay xã hội, dù vô cùng lớn hay vô cùng nhỏ, dù thuộc giới vô sinh hay hữu sinh đều ở trong trạng thái biến đổi không ngừng. Theo Ph. Ăngghen, vật chất mà không vận động là điều không thể tưởng tượng được và ngược lại cũng không tưởng tượng nổi có thứ vận động nào lại không phải là vận động của vật chất, không thuộc về vật chất. Vật chất chỉ có thể tồn tại được bằng cách vận động và thông qua sự vận động và biểu hiện sự tồn tại của mình. Vì vậy, nhận thức sự vận động của sự vật cũng chính là nhận thức bản thân sự vật. Vận động của vật chất là sự tự thân vận động. Nguồn gốc của sự vận động nằm ngay trong bản thân thế giới vật chất, không cần đến một lực lượng siêu tự nhiên nào từ bên ngoài. Vật chất không do ai sáng tạo ra và nó không thể bị tiêu diệt, mà vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, nên vận động cũng không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt. Vận động của một vật thể cụ thể có thể tăng, giảm, nhưng vận động của toàn thế giới vật chất bao giờ cũng là một số không thay đổi. Định luật chuyển hóa và bảo toàn năng lượng đã cho thấy, nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất yếu nảy sinh một hình thức vận động khác thay 1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.20, tr. 519, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994. 11
- thế nó. Nghĩa là các hình thức vận động chỉ chuyển hóa lẫn nhau, chứ vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn, tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất. 2. 3. Các hình thức vận động cơ bản của vật chất Dựa vào những thành tựu khoa học thời đại mình, Ph. Ăngghen đã phân chia vận động của vật chất thành năm hình thức cơ bản: - Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian). - Vận động vật lý (vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện, từ ). - Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và phân giải các chất). - Vận động sinh học (sự trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường). - Vận động xã hội (quá trình biến đổi và thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội). Giữa các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, có quy luật vận động riêng. Vì vậy, không được quy hình thức vận động này về hình thức vận động khác. Ví dụ, nếu quy các hoạt động sinh học vào hoạt động cơ học, xem hoạt động của cơ thể sinh học, của con người như hoạt động của máy móc sẽ làm mất đặc trưng sinh học của các cơ thể sống. Mặt khác, trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật luôn chịu sự chi phối của nhiều hình thức vận động, trong đó bao giờ cũng có một hình thức vận động đặc trưng. Ví dụ, đối với động vật thì vận động sinh học là vận động đặc trưng, mặc dù trong cơ thể động vật còn có các vận động cơ học, vật lý và hóa học. Không thấy được điều đó sẽ không phản ánh được bản chất của sự vật. 2. 4. Vận động và đứng im Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng. Nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm trong đó hiện tượng đứng im tương đối. Nếu không có hiện tượng đứng im tương đối thì sẽ không có một sự vật nào tồn tại được, và chúng ta cũng sẽ không nhận thức được sự vận động của sự vật. Hiện tượng đứng im chỉ là tương đối và tạm thời. Vì, thứ nhất, hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi quan hệ cùng một lúc (con tàu đứng im so với bến cảng, còn so với mặt trời thì nó vận động theo sự vận động của quả đất). Thứ hai, hiện tượng đứng im chỉ xảy ra với một hình thức vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc (con tàu đứng im là xét về hình thức vận động cơ học, trong khi đó các hình thức vận động lý, hóa không ngừng diễn ra trong bản thân nó). Thứ ba, hiện tượng đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động - vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối của mỗi sự vật và hiện tượng. Trạng thái thăng bằng, ổn định này sẽ bị sự vận động là tuyệt đối phá vỡ. Ph. Ăngghen viết: "Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt”1. Như vậy, trong quan hệ giữa vận động và đứng im, vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, đứng im là tương đối, tạm thời. 3. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức Trên cơ sở của những thành tựu triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác-Lênin đã cho chúng ta thấy rõ nguồn gốc và bản chất của ý thức. 1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.20, tr. 740, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994. 12
- 3.1. Nguồn gốc của ý thức Ý thức con người là sản phẩm của quá trình phát triển của cả tự nhiên và của lịch sử xã hội. Nói khác đi, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. 3.1.a. Nguồn gốc tự nhiên a.1. Ý thức là thuộc tính (thuộc tính phản ánh) của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Phản ánh đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động). Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động. Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn. - Phản ánh của giới vô sinh là những phản ánh vật lý, hoá học. Những hình thức phản ánh này đơn giản, thụ động, chưa có sự định hướng, sự lựa chọn. - Trên cơ sở phản ánh của giới vô sinh xuất hiện một hình thức phản ánh cao hơn về vật chất, đó là phản ánh của giới hữu sinh - phản ánh sinh học. Hình thức phản ánh này gắn liền với sự chuyển hoá từ giới vô sinh qua giới hữu sinh. Phản ánh sinh học trong các cơ thể sống đã có sự định hướng, sự lựa chọn, nhờ đó, các sinh vật thích nghi với môi trường sống để duy trì sự tồn tại của mình. Phản ánh sinh vật được thực hiện thông qua các hình thức như sự kích thích trong cơ thể do tác động của môi trường ở thực vật, các phản xạ ở động vật có hệ thần kinh và tâm lý ở động vật cấp cao có bộ óc. Tâm lý động vật là hình thức phản ánh cao nhất của động vật, nhưng đó chưa phải là ý thức, mà chỉ là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp sinh lý của cơ thể và quy luật sinh học chi phối. Cùng với quá trình vượn biến thành người, phản ánh ở động vật cấp cao chuyển hoá thành ý thức. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất, là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Như vậy, ta thấy rằng các dạng vật chất có trình độ tiến hoá càng cao thì sự phản ánh càng cao; ý thức chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con người, chứ không phải với mọi dạng vật chất; ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của vật chất phát triển; ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất. Do đó, không được đồng nhất vật chất với ý thức và cũng không được tách ý thức ra khỏi vật chất. a.2. Khách thể vật chất bên ngoài Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người. Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xẩy ra. Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh) cùng với thế giới bên ngoài (khách thể vật chất bên ngoài) tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Song, muốn có sự chuyển biến nhảy vọt từ phản ánh tâm lý ở động vật sang phản ánh có ý thức của con người, ngoài nguồn gốc tự nhiên cần phải có nguồn gốc xã hội. 3.1.b. Nguồn gốc xã hội Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và ngôn ngữ. 13
- b.1. Lao động Lao động là phương thức tồn tại cơ bản của con người, là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác. - Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng các công cụ đó để tạo ra của cải vật chất. - Lao động là hoạt động có mục đích, tác động vào thế giới khách quan nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Do đó, ý thức con người phản ánh một cách tích cực, chủ động và sáng tạo. Lao động giúp cho con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua quá trình lao động, bộ óc con người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển. Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội với nhau, làm nảy sinh ở họ nhu cầu giao tiếp. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triển cùng với lao động. b.2. Ngôn ngữ Ngôn ngữ do nhu cầu lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được. Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, vừa là công cụ của tư duy nhằm khái quát hoá, trừu tượng hoá hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, truyền lại tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ý thức không phải là một hiện tượng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được. Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ. Chính vì vậy, Ph. Ăngghen đã khẳng định rằng: "Sau lao động đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài vật thành bộ não của con người, tâm lý động vật thành ý thức"1 3. 2. Bản chất của ý thức Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo, tích cực và chủ động về thế giới khách quan. Đó chính là sự khác biệt rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý động vật và với sự "suy nghĩ" của máy móc. Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, trong khuôn khổ và theo tính chất của quy luật phản ánh. Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện tượng xã hội. Ý thức chỉ được nẩy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người. Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động xã hội, do đó ý thức, ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại. 1 Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, tr. 257, Nxb Sự thật, Hà Nội,1974. 14
- III. HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 1.1 Nội dung nguyên lý Thế giới được tạo thành từ vô số những sự vật, những hiện tượng, những quá trình khác nhau. Trong lịch sử triết học những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, tách rời nhau. Với quan điểm siêu hình giữa các sự vật, hiện tượng không có mối liên hệ, ràng buộc quy định nhau. Khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng trong thế giới. Theo phép biện chứng duy vật, nguyên lý mối liên hệ phổ biến là sự khái quát các mối liên hệ, tác động, ràng buộc, quy định, xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng và các quá trình trong thế giới. Theo cách tiếp cận đó, phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau, vận động và biến đổi không ngừng. Trong thế giới không có sự vật, hiện tượng tồn tại cô lập, biệt lập nhau. Phép biện chứng duy vật khẳng định cơ sở của mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng và rất khác nhau, thì cũng chỉ là những dạng tồn tại cụ thể của một thế giới duy nhất là vật chất. Ý thức của con người không phải là vật chất nhưng không thể tồn tại biệt lập với vật chất bởi vì ý thức cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người; hơn nữa nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất. Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà còn khẳng định tính đa dạng của sự liên hệ; bởi thế giới là một chỉnh thể với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác nhau, chúng không ngừng vận động và phát triển một cách đa dạng. Có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ bên trong, có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ chung bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của hiện thực. Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp. Có mối liên hệ bản chất và có mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất nhiên, có mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự vật, có mối liên hệ giữa các mặt của mỗi sự vật. Phân loại các mối liên hệ là cần thiết bởi vì mỗi loại liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của các sự vật. Sự phân loại còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của phép biện chứng duy vật và của các ngành khoa học cụ thể. Tuy nhiên, việc phân loại liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, mỗi mắt khâu của mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới. Đây là cơ sở khoa học không chỉ để phân ngành các khoa học mà còn là cơ sở để hình thành các khoa học liên ngành 1.2. Ý nghĩa phương pháp luận Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, đa dạng, do đó muốn nhận thức đúng và từ đó có phương pháp tác động có hiệu quả 15
- vào mỗi sự vật phải có quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải xem xét đầy đủ các mối liên hệ của sự vật đó với các sự vật khác; liên hệ trực tiếp và cả mối liên hệ gián tiếp; đồng thời xem xét các mối liên hệ giữa các yếu tố, thuộc tính bên trong của sự vật. V.I. Lênin viết: “ Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”.1 Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể: phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự vật tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của sự vật. Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ đa dạng của sự vật. Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn, V.I. Lênin đã nêu lên tư tưởng về sự kết hợp chặt chẽ giữa “Chính sách dàn đều ” và “Chính sách có trọng điểm” trong “chính sách kinh tế mới”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã nêu lên quan điểm đổi mới toàn diện và bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại. Đồng thời Đảng cũng tập trung vào nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục cuộc khủng hoảng về kinh tế- xã hội, tạo tiền đề vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. 2. Nguyên lý phát triển 2.1 Nội dung nguyên lý Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển thống nhất hữu cơ với nhau, bởi vì các sự vật tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, nhờ có liên hệ mới có tác động qua lại và gây ra sự biến đổi- tức là vận động, mà nếu không có vận động thì không có sự phát triển, tuy nhiên, “vận động” và “ phát triển ” là hai khái niệm khác nhau. Vận động là mọi biến đổi nói chung, không tính đến xu hướng, kết quả của những biến đổi. Phát triển không khái quát mọi vận động mà chỉ khái quát những sự vận động đi lên, làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái cũ, cái lạc hậu. Phát triển là phạm trù triết học khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện. Như vậy, sự phát triển là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạp của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định mới cao hơn về chất. Phép biện chứng duy vật khẳng định sự phát triển, đổi mới là quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy của con người. Trong giới hữu sinh, sự phát triển biểu hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính mình, ở khả năng hoàn thiện về trao đổi vật chất giữa cơ thể với môi trường. Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã hội theo quy luật, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, hướng tới sự nghiệp giải phóng con người. Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên và xã hội và nhận thức chính bản thân con người. 1 V.I. Lênin: TT. Nxb Tiến bộ, M. 1981, tập 42, trang 364. 16
- Phép biện chứng duy vật khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của các sự vật, hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tuyến, mà quanh co, phức tạp, theo hình xoáy ốc; trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối. Phép siêu hình do tuyệt đối hóa trạng thái ổn định của sự vật đi đến phủ nhận sự phát triển. Nếu có thừa nhận sự phát triển thì cũng chỉ là sự tăng giảm về lượng, sự lặp lại tuần hoàn mà không có sự chuyển hóa về chất, không có sự phá hủy cái cũ và sự ra đời của cái mới. Về nguồn gốc của sự phát triển, theo quan điểm duy tâm là từ những lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người. Hêghen cho rằng sự phát triển giới tự nhiên của xã hội đều đã được thiết định trước, từ sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”. Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong sự vật quy định. Do đó phát triển là tự thân phát triển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật. Phát triển là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ, tạo ra vòng khâu liên hệ giữa cái cũ và cái mới, tạo ra khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc, nghĩa là trong quá trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên một cơ sở cao hơn. 2.2. Ý nghĩa về phương pháp luận Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta rút ra được phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới. Giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triển không ngừng. Bản chất khách quan của các quá trình hiện thực đòi hỏi chúng ta muốn phản ánh đúng hiện thực khách quan, cần phải có quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng. Quan điểm phát triển đối lập với tư tưởng bảo thủ trì trệ. Tuyệt đối hóa tri thức là kết quả của sự nhận thức về sự vật trong một hoàn cảnh cụ thể và xem nó như là tri thức đúng cho cả quá trình phát triển của sự vật. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhận thức sự vật, hiện tượng trong thực tế là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó hoạt động thực tiễn là quá trình tìm ra mâu thuẫn, phân tích mâu thuẫn và tìm ra giải pháp giải quyết mâu thuẫn. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển. V.I. Lênin cho rằng, để có tri thức đúng về sự vật, “ bản thân sự vật phải được xem xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó”1 IV. NHỮNG CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Cái riêng, Cái chung 1.1. Khái niệm - Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định. 17
- - Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ nhũng mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác. - Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác. 1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 1.2.1. Quan điểm về cái riêng và cái chung trước triết học Mác - Trong lịch sử triết học có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung + Phái duy thực cho rằng, cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự, độc lập với ý thức con người. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng mà còn sinh ra cái riêng. + Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng con người bịa đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Cả quan niệm của phái duy thực và duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách cái riêng ra khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa cái chung và c¸i riêng. 1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung Phép biện chứng duy vật khẳng định cái chung, cái riêng, thực sự tồn tại khách quan và tồn tại trong mối quan hệ biện chứng. Cụ thể là: - Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của nó. Vì thế, không thể có cái chung thuần túy tồn tại biệt lập ngoài cái riêng. - Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Bởi vậy, không có cái riêng tồn tại tuyệt đối độc lập với cái chung. - Cái chung là bộ phận của cái riêng nhưng lại sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. Còn cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung vì bất cứ cái riêng nào bên cạnh những thuộc tính ®ược lặp lại ở các sự vật khác mỗi cái riêng đều chứa đựng cái đơn nhất. - Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật trong những điều kiện nhất định. Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc mà thoạt đầu là ở dạng đơn nhất nhưng theo quy luật của phát triển cái đơn nhất sẽ chiến thắng cái cũ để trở thành cái chung. Ngược lại, cái cũ từ chỗ là cái phổ biến, cái chung sẽ mất đi dần biến thành cái đơn nhất. 1.3. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận - Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng chứ không phải từ ý muốn chủ quan của con người hoặc bên ngoài cái riêng. - Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung, trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. 18
- - Phải thấy được mối quan hệ qua lại giữa cái chung và cái riêng để khi áp dụng cái chung vào những trường hợp riêng biệt không rơi vào tả khuynh, giáo điều bằng cách cá biệt hóa, không áp dụng rập khuôn, máy móc cái chung. Để khắc phục bệnh hữu khuynh xét lại thì phải tránh tuyệt đối hóa cái đơn nhất, xem thường cái chung. Và để tránh khỏi tình trạng mò mẫm tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa thì khi giải quyết vấn đề riêng không thể không đặt trong mối liên hệ với những vấn đề chung có liên quan đến vấn đề riêng đó. - Trong quá trình phát triển của sự vật, ở những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất biến thành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi cho con người và ngược lại, biến cái chung thành cái đơn nhất nếu cái chung đó là không cần thiết và bất lợi cho con người. 2. Nguyên nhân và kết quả 2.1. Khái niệm - Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra những biến đổi nhất định nào đó. - Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra. 2.2. Một số tính chất của mối liên hệ nhân quả 2.2.1. Tính khách quan Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định mối quan hệ nhân quả là khách quan, là cái vốn có của các sự vật hiện tượng, không phụ thuộc vào ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc có nhận thức được nó hay không nhận thức được nó. Ngược lại, với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy tâm không thừa nhận quan hệ nhân quả là quan hệ vốn có tồn tại ngay trong bản thân sự vật. Với chủ nghĩa duy tâm khách quan nguyên nhân của mọi sự tác động nằm ở ngoài sự vật, bắt nguồn từ một thực thể tinh thần có trước loài người. Với chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì nguyên nhân và kết quả chỉ là những khái niệm hay những ký hiệu để ghi nhận cảm giác của con người. 2. 2. 2 Tính phổ biến Tính phổ biến của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi. 2.2.3 Tính tất yếu Tính tất yếu của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ cùng một nguyên nhân nhất định trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy vậy, trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính tất yếu của quan hệ nhân quả trên thực tế phải hiểu là nguyên nhân tác động trong trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng ít khác nhau bấy nhiêu. 2 .3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 2.3.1. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện. 19
- - Tuy vậy, không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân quả. Sự khác biệt giữa quan hệ nhân quả với quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian là ở chỗ giữa nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ sản sinh, quan hệ trong đó nguyên nhân sinh ra kết quả. - Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì quan hệ sản sinh còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau và một kết quả có thể được tạo thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tác động trong cùng một lúc hoặc tác động riêng lẻ. Khi các nguyên nhân tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động sẽ khác nhau tùy thuộc vào hướng tác động của nó. Nếu sự tác động của các nguyên nhân hợp thành một hướng thì sẽ tạo nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu sự tác động của các nguyên nhân theo các hướng khác nhau sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau. Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân, để có thể chủ động điều kiện thuận lợi cho từng nguyên nhân phát huy tác dụng trong việc sản sinh ra kết quả có hiệu quả nhất. - Phân loại nguyên nhân Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả có thể phân các nguyên nhân ra thành: + Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu + Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài + Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan 2.3.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân Kết quả do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động mà trái lại ảnh hưởng, tác động trở lại với nguyên nhân theo hai hướng tích cùc hoặc tiêu cực. 2.3.3. Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân nhưng ở mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại. Vì vậy, nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định. Chính vì thế, quan hệ nhân quả là một chuỗi vô tận. Trong chuỗi đó không có bắt đầu, không có kết thúc, không có cái gọi là nguyên nhân đầu tiên hay kết quả cuối cùng. Nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng được xác định bởi một quan hệ cụ thể. 2.4. Những ý nghĩa về mặt phương pháp luận - Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong nên không có vấn đề có hay không có nguyên nhân của hiện tượng nào đó, mà chỉ có vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát hiện ra hay chưa mà thôi. Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. V× vậy, nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nói riêng là đi làm rõ những nguyên nhân chưa được phát hiện, còn ẩn giấu đằng sau những hiện tượng. Xác định nguyên nhân là một quá trình phức tạp vì thế cần lưu ý: + Mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan nên phải tìm nguyên nhân của hiện tượng trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật hiện tượng của thế giới vật chất chứ không phải trong ý thức của con người. 20
- + Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả nên khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần tìm trong những mặt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện. + Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra nên trong quá trình xác định nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần hết sức tỉ mỉ, thận trọng để làm rõ vai trò của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ và quan hệ của chúng với các tổ hợp cấu thành trong việc sản sinh ra kết quả. + Một hiện tượng trong mối quan hệ này là kết quả, trong mối quan hệ khác là nguyên nhân nên để hiểu râ tác dụng của hiện tượng ấy cần xem xét nó trong những quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong những quan hệ mà nó là kết quả. - Mối quan hệ nhân quả mang tính tất yếu nên ta có thể dựa vào mối quan hệ này để hành động, nhưng cần phải lưu ý: + Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó thì cần phải loại bỏ nguyên nhân sản sinh ra nó. + Muốn cho một hiện tượng xuất hiện cần tạo ra nguyên nhân cùng những điều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng nhưng phải căn cứ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hành động thích hợp. + Trong hoạt động thực tiễn trước hết phải dựa vào nguyên nhân bên trong và nguyên nhân chủ yếu vì đó là những nguyên nhân giữ vai trò quyết định sự xuất hiện, vận động và tiêu vong của hiện tượng. + Để đẩy nhanh (kìm hãm hoặc loại trừ) sự biến đổi của một hiện tượng xã hội nào đó cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều (hay lệch hoặc ngược chiều) với chiều vận động của mối liên hệ nhân quả khách quan. 3. Tất nhiên và ngẫu nhiên 3.1. Khái niệm - Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện quyết định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. - Ngẫu nhiên là cái không phải do bản thân kết cấu của sự vật, mà do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định; do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, cũng có thể xuất hiện như thế khác. Cần chú ý phạm trù tất nhiên có quan hệ với phạm trù “cái chung” tính nhân quả và tính quy luật. Phạm trù tất nhiên không đồng nhất với pham trù cái chung cho dù cả cái tất nhiên và cái chung đều được quyết định bởi bản chất nội tại, bởi quy luật bên trong của sự vật nhưng vẫn có sự khác biệt. Vì chỉ có phần lớn cái chung là được quyết định bởi bản chất nội tại, bởi quy luật bên trong của sự vật nhưng vẫn có những cái chung chỉ là những thuộc tính được lặp đi lặp lại ở nhiều sự vật riêng lẻ nên có cái chung là tất nhiên nhưng cũng có cái chung là ngẫu nhiên. Với tính nhân quả, cần loại bỏ quan niệm chỉ có tất nhiên mới có nguyên nhân. Bất kỳ hiện tượng nào cũng có nguyên nhân. Vì vậy, cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân. Sự khác biệt giữa chúng là ở chỗ cái tất nhiên gắn liền với nguyên nhân cơ bản, nội tại của sự vật, còn ngẫu nhiên là kết quả tác động của một số nguyên nhân bên ngoài. Như vậy, bất kỳ hiện tượng ngẫu nhiên nào cũng có 21
- nguyên nhân của nó và mối liên hệ của nó với nguyên nhân bao giờ cũng là tất yếu. Nhưng sở dĩ nó được coi là hiện tượng ngẫu nhiên là vì những nguyên nhân gây ra nó là những nguyên nhân ngẫu nhiên. Không thể khẳng định chỉ có tất nhiên là gắn với tính quy luật mà phải thấy rằng cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tuân theo quy luật. Sự khác biệt giữa chúng là: tất nhiên tuân theo các quy luật động lực còn ngẫu nhiên tuân theo các quy luật thống kê. Trong lịch sử triết học trước Mác có nhiều quan điểm khác nhau về tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tự nhiên chỉ có ngẫu nhiên, không có tất nhiên. Lịch sử xã hội loài người là một đống hỗn tạp những ngẫu nhiên. Đây là quan niệm sai lầm của các nhà duy tâm và xã hội học trước Mác. Các nhà duy vật trước Mác lại chỉ thừa nhận tồn tại khách quan của tất nhiên mà phủ nhận sự tồn tại khách quan của ngẫu nhiên vì cho rằng mỗi hiện tượng đều có nguyên nhân nên ngẫu nhiên là kết quả hiểu biết không đầy đủ về nguyên nhân của nó mà thôi. Việc phủ nhận sự tồn tại khách quan của ngẫu nhiên sẽ dẫn đến những kết luận nguy hại cho hoạt động thực tiễn, nhận thức của con người và dẫn tới chủ nghĩa định mệnh vì tất cả những mối liên hệ đều như nhau thì trong hoạt động thực tiễn con người có thể dựa vào bất cứ mối liên hệ nào cũng được, trong khi để hoạt động thực tiễn có kết quả con người phải biết rõ quy luật xuất hiện của các hiện tượng và mức độ chắc chắn của sự xuất hiện đó. Hơn thế nữa, phủ nhận sự tồn tại khách quan của ngẫu nhiên là phủ nhận tác dụng tích cực của con người đối với tiến trình lịch sử dẫn con người tới chỗ chỉ biết cam chịu tuân theo cái tất nhiên đang thống trị. 3.2. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên 3.2.1. Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, ở bên ngoài, độc lập với ý thức của loài người và đều có vai trò với sự phát triển của sự vật. Trong quá trình phát triển của sự vật không phải chỉ cái tất nhiên mà cả cái ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng của nó. Vai trò của tất nhiên là chi phối sự phát triển của sự vật. Vai trò của ngẫu nhiên là ảnh hưởng, làm cho việc phát triển có thể diễn ra nhanh hoặc chậm. 3.2.2. Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau nên không có tất nhiên hoặc ngẫu nhiên thuần túy. Sự thống nhất hữu cơ thể hiện ở chỗ cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên. Điều này có nghĩa là cái tất nhiên là khuynh hướng của sự phát triển mà sự phát triển bao giờ cũng phải bộc lộ dưới một hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung. Nói cách khác, cái tất nhiên là cái được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên. Vì thế, những gì ta gọi là ngẫu nhiên trong hiện thực không thể là ngẫu nhiên thuần túy mà là ngẫu nhiên đang che giấu cái tất nhiên, ngẫu nhiên bao hàm cái tất nhiên. 3.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau. Tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ mà thường xuyên thay đổi, phát triển và trong những điều kiện nhất định chúng chuyển hóa lẫn nhau, tất nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên. Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chỗ, khi xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật hiện tượng đó là cái ngẫu 22
- nhiên, nhưng khi xem xét trong mối quan hệ khác, thông qua mặt khác thì sự vật hiện tượng đó là tất nhiên. Điều này cho thấy ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có ý nghĩa tương đối. Do vậy, không nên cứng nhắc khi xem xét sự vật hiện tượng. 3. 3. Những ý nghĩa phương pháp luận 3.3.1. Cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định dứt khoát phải xảy ra và xảy ra đúng như thế này chứ không thể khác được, còn ngẫu nhiên có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra thế này, cũng có thể xảy ra thế khác. Cho nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên. Nhưng cái ngẫu nhiên có sự ảnh hưởng đến quá trình phát triển của sự vật hiện tượng cho nên không thể bỏ qua cái ngẫu nhiên. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần có các phương án hành động dự phòng cho trường hợp các sự biến ngẫu nhiên bất ngờ xuất hiện để không rơi vào lúng túng bị động trong hoạt động. Nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của khoa học nói riêng là phải nhận thức cái tất nhiên ẩn giấu đằng sau những cái ngẫu nhiên, đồng thời giúp con người ngăn ngừa sự tác động của những ngẫu nhiên không có lợi và sử dụng những ngẫu nhiên có lợi cho con người. 3.3.2. Để nhận thức cái tất nhiên thì phải bắt đầu từ cái ngẫu nhiên vì cái tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần túy mà biểu hiện thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Thực tế này đã chỉ rõ để vạch ra được tất nhiên thì phải nghiên cứu từ rất nhiều cái ngẫu nhiên. Nhưng vì không có ngẫu nhiên thuần túy, ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên nên trong hoạt động nhận thức vẫn phải thường xuyên quan tâm đến cái ngẫu nhiên để nhận thức ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn về tự nhiên và xã hội. 3.3.3. Không phải cái chung nào cũng đồng thời là cái tất nhiên cho nên vạch ra được cái chung chưa có nghĩa là đã vạch ra được cái tất nhiên mà phải xem đó chỉ là một bước trên con đường vạch ra cái tất nhiên. 3.3.4. Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫu nhiên và ngược lại. Cho nên, cần chú ý tạo những điều kiện cần thiết hoặc để ngăn trở, hoặc để sự chuyển hóa đó diễn ra tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn. 4. Nội dung và hình thức 4.1. Khái niệm - Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật. - Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó. Từ định nghĩa trên cho thấy: nội dung không phải là bản thân sự vật mà là trạng thái tồn tại của sự vật trong sự tác động qua lại giữa các yếu tố, những mặt tạo nên sự vật. Vì thế, nội dung là một quá trình chứ không phải là một cái gì bất biến. Một sự vật đều có hình thức bên trong và hình thức bên ngoài. Hình thức bên ngoài là sự biểu hiện trên bề mặt của nội dung, là hình dáng tồn tại của nội dung. Do vậy, hình thức bên ngoài chỉ dừng lại ở biểu hiện những nét riêng biệt, những dấu hiệu của nội dung trong nhận thức cảm tính. Nhưng điều này không có nghĩa là hình thức bên ngoài không có liên hệ gì với nội dung mà xét đến cùng thì 23
- vẫn do nội dung quyết định. Chẳng hạn, mặt bàn thì không thể là hình cầu mặc dù cái bàn có thể là hình vuông hay hình chữ nhật. Hình thức trong cặp phạm trù này là hình thức bên trong, hình thức gắn liền với nội dung. Chính vì thế hình thức mà phép biện chứng nghiên cứu là hình thức bên trong. 4.2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức 4.2.1. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức - Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tuơng đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung. Điều đó chứng tỏ rằng các yếu tố vừa góp phần tạo nên nội dung, đồng thời vừa tham gia vào các mối liên hệ tạo nên hình thức. Do vậy, nội dung và hình thức không tách rời nhau, mà gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau. Không có một hình thức nào không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định. - Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không phải vì thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau nghĩa là một nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện trong một hình thức nhất định, và một hình thức bao giờ cũng chỉ chứa đựng một nội dung nhất định. Tính phức tạp của mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức là ở chỗ: cùng một nội dung trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại, cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau. Thực tế này đã đặt ra một vấn đề quan trọng là phải tận dụng tất cả mọi hình thức có thể có, kể cả một số hình thức cũ để phục vụ cho nội dung mới. 4.2.2. Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong vận động phát triển của sự vật Trong quá trình vận động, phát triển của sự vật nội dung là mặt động nhất, có khuynh hướng chủ đạo là biến đổi. Còn hình thức là mặt tương đối bền vững của sự vật, nên khuynh hướng chủ đạo của hình thức là ổn định. Sự biến đổi, phát triển của sự vật bao giờ cũng khởi đầu từ biến đổi và phát triển của nội dung. Trong sự biến đổi và phát triển đó hình thức cũng biến đổi, nhưng biến đổi chậm hơn, ít hơn so với sự biến đổi của nội dung. Khi nội dung biến đổi thì hình thức phải biến đổi theo cho phù hợp với nội dung mới. Vì vậy, so với hình thức nội dung giữ vai trò quyết định. 4.2.3. Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Sự tác động của hình thức với nội dung thể hiện ở chỗ: khi phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ mở đường và thúc đẩy sự phát triển của nội dung, ngược lại khi không phù hợp, hình thức sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung. Sự tác động qua lại giữa nội dung và hình thức diễn ra trong suốt quá trình phát triển cuả sự vật. Những biến đổi lúc đầu trong nội dung chưa ảnh hưởng đến hệ thống mối liên hệ tương đối bền vững của hình thức, tới một lúc nào đó sự biến đổi liên tục của nội dung tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng các mối liên hệ của hình thức trở nên chật hẹp không đáp ứng được sự biến đổi. Hình thức, lúc này không còn phù hợp với nội dung và bắt đầu kìm hãm sự phát triển của nội dung. Sự không phù hợp tiếp tục phát triển sẽ dẫn đến xung đột giữa nội dung và hình thức và xung đột ngày càng quyết liệt đến một lúc nào đó hình thức cũ sẽ bị nội 24
- dung mới phá bỏ - một hình thức mới hình thành. Với hình thức mới, nội dung chuyển sang một trạng thái mới về chất, tiếp tục biến đổi và phát triển. 4.3. Những ý nghĩa phương pháp luận - Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ với nhau nên trong hoạt động thực tiễn cần chống khuynh hướng tách rời nội dung và hình thức để không rơi vào hai thái cực sai lầm là tuyệt đối hóa hình thức, xem thường nội dung hoặc tuyệt đối hóa nội dung, xem thường hình thức. - Một nội dung trong điều kiện phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại cùng một hình thức có thể biểu hiện những nội dung khác nhau nên trong hoạt động thực tiễn cần sử dụng một cách sáng tạo mọi hình thức có thể có để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong những giai đoạn khác nhau. - Vì nội dung quyết định hình thức nên để xét đoán sự vật thì phải căn cứ vào nội dung và muốn làm biến đổi sự vật thì phải tác động để làm thay đổi nội dung của sự vật. Nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung nên trong hoạt động thực tiễn phải thường xuyên theo dõi mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của sự vật để có thể kịp thời can thiệp, tạo ra sự phù hợp giữa chúng tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn. 5. Bản chất và hiện tượng 5.1. Khái niệm - Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. - Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài những mặt, những mối liên hệ của một bản chất. - Phạm trù bản chất gắn liền với phạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất với cái chung. Có cái chung là bản chất, nhưng cũng có cái chung không phải là bản chất. - Xét về mặt nhận thức, phạm trù bản chất và phạm trù quy luật là cùng loại hay một trình độ nhưng bản chất và quy luật không đồng nhất với nhau. Mỗi quy luật thường chỉ biểu hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của bản chất. Bản chất là tổng hợp của nhiều quy luật. Vì vậy, phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn quy luật. 5.2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan và có quan hệ biện chứng với nhau. 5.2.1. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng trước hết thể hiện ở chỗ: - Bản chất luôn luôn được bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định. Không có bản chất tồn tại thuần túy bên ngoài hiện tượng và cũng không có hiện tượng không thể hiện bản chất. Vì vậy, mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. - Bản chất và hiện tượng về căn bản phù hợp với nhau. Bởi vậy, mỗi hiện tượng là sự biểu hiện bản chất ở mức độ nào đó và bản chất thể hiện ra ở những hiện tượng tương ứng. Bản chất nào thì hiện tượng ấy, bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra thành những hiện tượng khác nhau. Bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo. Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất theo. 25
- 5.2.2. Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Do vậy, không phải bản chất và hiện tượng phù hợp với nhau hoàn toàn mà còn bao hàm cả sự mâu thuẫn nhau. Mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ: - Bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt. Vì vậy, cùng một bản chất có thể biểu hiện ra ngoài bằng vô số hiện tượng khác nhau tùy theo sự biến đổi của điều kiện hoàn cảnh. Vì vậy, hiện tượng phong phú hơn bản chất, còn bản chất sâu sắc hơn hiện tượng. Bản chất là cái tương đối ổn định, ít biến đổi, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi. - Bản chất là mặt bên trong ẩn dấu sâu xa của hiện thực khách quan, còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy. Bản chất không được thể hiện hoàn toàn ở một hiện tượng mà biểu hiện ở rất nhiều hiện tượng khác nhau. Hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện của bản chất dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi là xuyên tạc bản chất. 5.3. Những ý nghĩa phương pháp luận - Bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn và biến đổi nhanh hơn so với bản chất nên trong nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật thì không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của sự vật và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng. - Bản chất tồn tại khách quan ở ngay trong bản thân sự vật nên chỉ có thể tìm ra bản chất của sự vật ở chính sự vật chứ không thể ở ngoài sự vật. Khi kết luận về bản chất của sự vật cần tránh những nhận định chủ quan, tùy tiện. Nhiệm vụ của nhận thức nói chung và của khoa học nói riêng là phải vạch ra được bản chất của sự vật. - Bản chất thể hiện ở các hiện tượng vì vậy để tìm bản chất của sự vật thì phải bắt đầu từ việc nghiên cứu hiện tượng, nhưng hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng cải biến, nhiều khi là xuyên tạc bản chất, nên trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xét rất nhiều hiện tượng khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau nhưng phải biết ưu tiên cho những hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình. 6. Khả năng và hiện thực 6.1. Khái niệm - Hiện thực là những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự. Còn khả năng là những gì chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng. - Khả năng là cái hiện chưa có ở thời điểm đang xét nhưng bản thân khả năng với tư cách cái chưa có đó lại tồn tại. Tức là các sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng để xuất hiện sự vật đó thì tồn tại. - Phân biệt khả năng với tiền đề hoặc điều kiện của một sự vật nào đó: Tiền đề hay điều kiện của một sự vật nào đó là cái hiện đang tồn tại thực sự, là yếu tố hiện thực trên cơ sở đó xuất hiện cái mới mà cái mới đang ở dạng tiềm năng. Còn khả năng không phải tiền đề, điều kiện của cái mới mà là cái mới đang ở dạng tiềm thế. 26
- 6.2. Phân loại các khả năng - Khả năng thực tế Tất cả khả năng đều là khả năng thực tế vì mọi khả năng là thực sự tồn tại và do hiện thực sinh ra. Tuy vậy, sự hình thành các khả năng không giống nhau, có cái hình thành một cách tất nhiên, có cái hình thành một cách ngẫu nhiên. Vì vậy, khả năng thực tế lại được phân thành khả năng tất nhiên và khả năng ngẫu nhiên. Khả năng tất nhiên dựa trên điều kiện và mức độ trở thành hiện thực phân thành khả năng gần và khả năng xa. - Ngoài khả năng thực tế, có thể phân thành khả năng chủ yếu và khả năng thứ yếu, khả năng tốt và khả năng xấu, khả năng thuận nghịch và khả năng bất thuận nghịch, khả năng cùng tồn tại và khả năng loại trừ nhau - Khả năng ảo, khả năng hình thức hay khả năng trừu tượng được một số tác giả dùng để chỉ những cái do con người tưởng tượng một cách chủ quan, không bắt nguồn từ hiện thực và không thể biến thành hiện thực thì không phải là khả năng theo đúng nghĩa. Vì vậy, không đề cập đến trong cặp phạm trù này. 6.3. Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực - Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Điều này do chính quá trình phát triển của sự vật quy định. Quá trình phát triển là quá trình trong đó khả năng biến thành hiện thực và hiện thực - hiện thực chứa đựng cái khả năng đang vận động - lại sản sinh ra các khả năng mới, các khả năng mới này trong những điều kiện thích hợp lại biến thành hiện thực mới cứ như vậy hiện thực được chuẩn bị bởi khả năng, còn khả năng hướng tới biến thành hiện thực, tạo thành một quá trình vô tận. - Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật, có thể tồn tại một số khả năng chứ không phải chỉ có một khả năng. Ngoài một số khả năng vốn sẵn có ở sự vật, khi xuất hiện điều kiện mới thì sẽ xuất hiện những khả năng mới và tính chất, vai trò của các khả năng có sẵn của sự vật cũng biến đổi theo sự thay đổi của điều kiện. - Để khả năng biến thành hiện thực thường cần có không chỉ có một điều kiện, mà là một tập hợp những điều kiện - tập hợp này được gọi là cần và đủ - khi tập hợp này xuất hiện thì khả năng nhất định sẽ trở thành hiện thực, sự biến nhất định phải xảy ra. 6.4. Vai trò của điều kiện khách quan và chủ quan trong sự chuyển biến khả năng thành hiện thực - Trong giới tự nhiên, quá trình khả năng biến thành hiện thực chủ yếu là một quá trình khách quan. - Trong xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan, khả năng muốn biến thành hiện thực còn cần có các điều kiện chủ quan là hoạt động thực tiễn của con người. Hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực. Nó có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình biến khả năng thành hiện thực, có thể điều khiển khả năng phát triển theo chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những điều kiện tương ứng. Không thấy vai trò của nhân tố chủ quan sẽ rơi vào sai lầm hữu khuynh chịu bó tay, khuất phục hoàn cảnh. Tuy 27
- nhiên không được tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan mà xem thường những điều kiện của nhân tố chủ quan mà xem thường những điều kiện khách quan vì sẽ dẫn đến sai lầm chủ quan, mạo hiểm, duy ý chí. 6.5. Những ý nghiã về mặt phương pháp luận - Hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có, nên trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào hiện thực, không dựa vào khả năng nhưng không được xem thường khả năng vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai nên khi đề ra chủ trương, kế hoạch hành động phải tính toán đến mọi khả năng để chủ động và có các phương án sát hợp trong hoạt động. - Để xác định các khả năng cần phải: Tìm khả năng phát triển của sự vật ở ngay trong chính bản thân sự vật; khi dự kiến khả năng phát triển của sự vật phải căn cứ vào sự tác động của các mặt khác nhau bên trong sự vật, sự tác động qua lại của sự vật với hoàn cảnh bên ngoài trong trạng thái vận động và phát triển; làm sáng tỏ sự khác biệt về chất giữa khả năng và hiện thực để không lầm lẫn khả năng với hiện thực; xuất phát từ mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng và hiện thực để xác định khả năng tiềm tàng và tương lai phát triển của sự vật, từ đó tạo những điều kiện cần thiết để thúc đẩy hoặc ngăn cản theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn. - Khi lựa chọn và thực hiện khả năng cần lưu ý: Trong cùng một lúc sự vật có thể chứa đựng nhiều khả năng khác nhau. Bởi vậy, khi lựa chọn khả năng cần phải ưu tiên khả năng tất nhiên, nhất là các khả năng gần vì đó là những khả năng dễ biến thành hiện thực; để khả năng biến thành hiện thực phải tạo cho nó các điều kiện cần và đủ; trong xã hội, khả năng không tự biến thành hiện thực mà phải có sự tham gia của con người, của nhân tố chủ quan vì vậy cần tạo mọi điều kiện cần thiết để nhân tố chủ quan tham gia tích cực - nếu có lợi - hoặc ngăn cản - nếu có hại - trong sự biến đổi khả năng thành hiện thực. Tuy nhiên, phải tránh hai thái cực là tuyệt đối hóa hoặc hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan trong việc biến khả năng thành hiện thực. V. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại Quy luật này vạch ra cách thức của sự vận động và phát triển. 1.1. Khái niệm 1.1.1. Khái niệm chất Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác. Chất là chất của mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan, cái làm nên sự vật, để phân biệt nó với vô vàn các sự vật, hiện tượng khác cùng tồn tại trong thế giới. Quan hệ giữa chất và thuộc tính, thuộc tính là đặc trưng (khía cạnh) của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ với sự vật khác. Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại là sự tổng hợp của những đặc trưng và trở thành một chất. Điều đó có nghĩa sự vật có thể có nhiều chất. Ph. Ăngghen: “Những chất lượng 28
- không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại”. Chất của sự vật không chỉ được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành sự vật mà còn được xác định bởi trật tự sắp xếp, phương thức liên kết giữa các yếu tố. 1.1.2. Khái niệm lượng Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó. Lượng và chất thống nhất với nhau trong mỗi sự vật tồn tại khách quan, do đó lượng cũng mang tính khách quan, phong phú như chất. Trong thực tế, lượng có thể được xác định bằng những đơn vị, các đại lượng và được nhận thức thông qua các đơn vị và đại lượng , có những lượng không được xác định bằng đơn vị, đại lượng, nhưng chúng ta vẫn nhận thức được nhờ ở khả năng trừu tượng hóa. Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối. 1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng - Lượng đổi dẫn đến chất đổi. Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là một thể thống nhất giữa chất và lượng. Trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, chất và lượng cũng không ngừng biến đổi. Sự thay đổi của lượng và chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi sự vật còn tồn tại trong một chất xác định, nghĩa là sự vật còn tồn tại trong khuôn khổ của một độ. Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật. Độ biểu hiện khuôn khổ ổn định tương đối của sự vật, độ của sự vật có thể thay đổi khi điều kiện thay đổi. Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tiệm tiến tăng dần hoặc giảm dần, khi lượng biến đổi đạt tới giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn đó gọi là điểm nút. Điểm nút là giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật. Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút. Ví dụ: Trạng thái nước lỏng (chất), 00c và 1000c là những điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới, sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là bước nhảy. Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của các sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra. Các hình thức của bước nhảy diễn ra rất đa dạng: có bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ; bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần. Như vậy, quá trình phát triển bao gồm sự tiệm tiến về lượng và thông qua những bước nhảy vọt, tạo ra sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới. Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới. Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật. - Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút. Khi chất mới ra đời, chất mới tác động trở lại lượng, quy định lượng mới để tạo ra 29
- phù hợp giữa chất và lượng mới. Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. 1.3. Ý nghĩa phương pháp luận Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thức tiễn. Để có tri thúc đúng về sự vật, thì phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó, và đặc biệt về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó. Sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất có mối quan hệ với nhau, do vậy trong hoạt động thực tiễn phải hiểu đúng vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay đổi về lượng và chất, đặc biệt trong sự phát triển xã hội; phải kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng. Xem xét tiến hóa và cách mạng trong quan hệ biện chứng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng. Hiểu đúng mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại hữu khuynh, cũng như chủ nghĩa “tả” khuynh. Chất của sự vật còn phụ thuộc vào trật tự sắp xếp, phương thức liên kết các yếu tố của sự vật. Trong hoạt động thực tiễn phải biết vận dụng để tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các sự vật và quá trình tự nhiên. Trong hoạt động xã hội cũng phải tạo ra sự phát triển đa dạng về chất của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. 2. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 2.1. Khái niệm Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển. V.I. Lênin xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng. + Khái niệm mặt đối lập. Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới đều có cấu trúc bao gồm những mặt, những yếu tố, thuộc tính khác nhau và đối lập nhau. Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại, quy định lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường nhận thức chân lý khách quan. Những mâu thuẫn logíc hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do sai lầm của tư duy. Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từ hai phán đoán phủ định nhau về cùng một phẩm chất của sự vật tại cùng một thời điểm. + Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập. Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau, sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi phải có nhau của các mặt đối lập; sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. 30
- Sự thống nhất của các mặt đối lập còn được gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập, bởi vì các mặt đối lập bao giờ cũng có nhân tố giống nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự "tác động ngang nhau” của chúng. Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập. + Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập. Các mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Tính đa dạng của hình thức đấu tranh của các mặt đối lập tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập, của mối liên hệ qua lại giữa chúng, vào điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh của các mặt đối lập. Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập. Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập, cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối. 2.2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển Phương pháp siêu hình phủ nhận sự tồn tại khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng, do đó quan điểm siêu hình phải tìm nguồn gốc của sự vận động và phát triển ở sự tác động từ bên ngoài vào sự vật, tiêu biểu là cái “ hích” ở Niutơn. Dựa trên những thành tựu khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tìm thấy nguồn gốc của vận động và phát triển ở mâu thuẫn, ở sự đấu tranh giữa các khuynh hướng, các mặt đối lập tồn tại trong các sự vật và hiện tượng. Mâu thuẫn biện chứng cũng nằm trong quá trình phát triển. Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản của hai khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau không ngừng phát triển và đi đến sự đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, mâu thuẫn được giải quyết và mâu thuẫn mới hình thành. Sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời. C. Mác viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp giữa hai mặt ấy thành một phạm trù mới”1. V.I. Lênin nhấn mạnh: “ Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”2. Nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn. 2.3. Ý nghĩa phương pháp luận Nhận thức sự vật, cũng có nghĩa là nhận thức mâu thuẫn của sự vật, nhận thức được các mặt đối lập cấu thành mâu thuẫn, và do đó biết được nguồn gốc của sự vận động và phát triển của sự vật. Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập; theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó; nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn; tìm hiểu những điều kiện cần cho sự biến đổi, đánh giá đúng vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn, xem mâu thuẫn đó có gì giống và khác các mâu thuẫn khác. Hoạt động thực tiễn là nhằm giải quyết mâu thuẫn tạo ra sự biến đổi của sự vật. Dó đó, phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn; tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn được 1 C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập. Nxb CTQG. H.1995.t4- tr.191 2 VI Lênin: TT. Nxb Tiến bộ, M. 1981, tập 29, trang 379. 31
- giải quyết bằng con đường đấu tranh của các mặt đối lập. Đối với mâu thuẫn khác nhau có phương pháp giải quyết khác nhau. 3. Quy luật phủ định của phủ định 3.1. Khái niệm về sự phủ định và phủ định biện chứng Quy luật phủ định của phủ định vạch ra khuynh hướng phát triển theo đường “xoáy ốc” của các sự vật, hiện tượng. Phủ định biện chứng và những đặc trưng của nó. Nghiên cứu sâu vào quá trình phát triển của thế giới, phép biện chứng duy vật cho rằng sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời. Mỗi sự thay thế ấy làm thành một mắt khâu trong sợi dây chuyền phát triển của hiện thực và tư duy. Sự ra đời của cái mới là kết quả của sự phủ định cái cũ, cái lỗi thời. Quá trình đó gọi là phủ định biện chứng. Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định. 3.2. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định Phủ định biện chứng có hai đặc trưng cơ bản. - Tính khách quan, phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan. - Tính kế thừa, phủ định biện chứng là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng cái mới chỉ phủ định mặt lạc hậu lỗi thời của cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ. Do đó phủ định biện chứng là sự phủ định nhưng đồng thời cũng là sự khẳng định. Phủ định của phủ định. Hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển. Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng, là sự thống nhất giữa loại bỏ, giữ lại (kế thừa) và phát triển. Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tố mới. Do đó sự phát triển thông qua những lần phủ định biện chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng. Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, biểu hiện sự phát triển do mâu thuẫn bên trong của sự vật. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và mặt phủ định. Phủ định biện chứng được hoàn thành trong một chu kỳ phát triển. Sự vật ở điểm xuất phát ban đầu qua lần phủ định thứ nhất, trở thành cái đối lập với mình- bước trung gian của sự phát triển; lần phủ định thứ hai, tái lập cái ban đầu nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Lần phủ định thứ hai được gọi là phủ định của phủ định. Ví dụ: Hạt thóc - Cây lúa- Bông lúa (Những hạt thóc) Phủ định của phủ định làm xuất hiện cái mới là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực đã được phát triển từ trong cái khẳng định ban đầu và cả trong những lần phủ định tiếp theo. Do vậy, cái mới với tư cách là kết quả phủ định của phủ định có nội dung toàn diện và phong phú hơn cái khẳng định ban đầu và cái kết quả của lần phủ định thứ nhất. Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, ở đó sự phát triển dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn, đây là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng. Điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển lại đồng thời là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo. 32
- Phủ định của phủ định được hoàn thành trong chu kỳ phát triển, thông thường mỗi chu kỳ trải qua hai lần phủ định, tuy nhiên, thế giới tồn tại rất đa dạng, do đó, số lần phủ định trong một chu kỳ có thể nhiều hơn. Nhưng trong số rất nhiều lần phủ định của một chu kỳ vẫn có thể khái quát lại hai lần: phủ định lần thứ nhất chuyển cái xuất phát thành cái đối lập với mình, phủ định lần thứ hai chuyển cái trung gian thành cái đối lập với nó, sự vật dường như lặp lại cái xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển. Sự phát triển không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường “ xoáy trôn ốc”. V.I. Lênin viết: “Sự phát triển dường như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốc chứ không theo đường thẳng”1. Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường “xoáy trôn ốc” chính là hình thức cho phép biểu đạt được rõ ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại và tính tiến lên của sự phát triển. Mỗi vòng mới của đường “xoáy trôn ốc” thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay trở lại cái đã qua, dường như lặp lại vòng trước. Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tận của sự phát triển, tính vô tận của sự tiến lên từ thấp đến cao 3.3. Ý nghĩa phương pháp luận Nghiên cứu quy luật phủ định có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau: Trong hoạt động lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn phải nhận thức đúng cái mới, cái mới nhất định sẽ chiến thắng cái cũ, cái tiến bộ nhất định chiến thắng cái lạc hậu. Phải biết phát hiện cái mới, quý trọng cái mới, tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, dù cho quá trình đó diễn ra đầy quanh co, phức tạp. Cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng chỉ phủ định cái lạc hậu, đồng thời kế thừa những giá trị, tinh hoa của cái cũ. Do đó, phải chống thái độ hư vô chủ nghĩa, phủ định sạch trơn quá khứ, nhưng cũng phải khắc phục thái độ bảo thủ, bám giữ cái lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử. VI. XÃ HỘI VÀ TỰ NHIÊN 1. Khái niệm quy luật xã hội Quy luật xã hội là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các hiện tượng của đời sống xã hội 2. Đặc điểm của quy luật xã hội Xã hội với tư cách vừa là bộ phận đặc thù của tự nhiên, vừa là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa người và người để cùng tồn tại và phát triển. Do đó, quy luật xã hội vừa có tính khách quan, tất yếu và phổ biến như quy luật của tự nhiên; vừa có những đặc điểm khác với quy luật của tự nhiên. 2.1. Tính khách quan của quy luật xã hội thể hiện ở chỗ, tuy quy luật xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của bất kỳ cái nhân hay lực lượng xã hội nào. Bởi vì, bằng hoạt động 1 VI Lênin: TT. Nxb Tiến bộ, M. 1981, tập 26, trang 65. 33
- thực tiễn, con người tạo ra xã hội, làm nên lịch sử; song, những hoạt động của con người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, trong những mối quan hệ nhất định giữa con người với con người và giữa con người với giới tự nhiên, mà những điều kiện và những mối quan hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình. 2.2. Tính tất yếu và tính phổ biến của quy luật xã hội. Những mối quan hệ của con người trong xã hội được hình thành một cách tất yếu và phổ biến, nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của con người, nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội. Quan hệ của con người trong xã hội có nhiều cấp độ khác nhau: loại quan hệ xã hội tồn tại phổ biến cho mọi hình thái kinh tế-xã hội như quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng v.v Loại quan hệ chỉ tồn tại trong một số hình thái kinh tế-xã hội như quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc v.v Loại quan hệ xã hội chỉ riêng có ở một hình thái kinh tế-xã hội nhất định như quan hệ giữa chủ nô và nô lệ, quan hệ giữa địa chủ và nông dân, quan hệ giữa tư sản và vô sản. Loại quan hệ xã hội dành riêng cho từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa v.v như quan hệ giữa các đảng phái chính trị, quan hệ buôn bán thương mại, quan hệ đạo đức, tôn giáo, pháp luật v.v Tùy thuộc vào mức độ quan trọng và phổ biến của các mối quan hệ xã hội mà các quy luật thể hiện chúng cũng có mức độ tất yếu và phổ biến khác nhau. 2.3. Ngoài những đặc điểm trên, quy luật xã hội còn những đặc điểm khác như sau: Quy luật xã hội được hình thành và tác động thông qua hoạt động có ý thức của con người. Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người. Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động. Do vậy, lợi ích trở thành một yếu tố quan trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội. Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như là những xu hướng, mang tính xu hướng. Những mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người và người đã tạo ra những hoạt động khác nhau trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động khác nhau đó tạo thành xu hướng vận động của lịch sử, trong đó, lực hoạt động của khối đông người chiếm ưu thế. Quy luật xã hội tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định. Khi những điều kiện tồn tại tất yếu của quy luật xã hội bị xóa bỏ, thì quy luật cũng không tồn tại. Chẳng hạn, đấu tranh giai cấp là một trong những động lực của lịch sử, là quy luật của các xã hội có đối kháng giai cấp. Quy luật này sẽ chấm dứt hoạt động khi xã hội chấm dứt hoàn toàn sự phân chia thành những giai cấp đối kháng. Quy luật xã hội là quy luật hoạt động của loài người trong quá trình làm nên lịch sử. Con người không chỉ tồn tại trong môi trường xã hội, mà còn tồn tại trong môi trường tự nhiên, do vậy, hoạt động của con người không chỉ tuân theo những quy luật xã hội mà còn phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên. Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động của con người. Do đó, khi con người chưa nhận thức và chưa vận dụng được quy luật thì con người hành động một cách tự phát, là “nô lệ” của tính tất yếu, nhưng khi đã nhận thức được quy luật và những điều kiện tác động của chúng, tức là nhận thức được cái tất yếu thì con 34
- người có thể điều khiển hoạt động của mình theo quy luật một cách tự giác và con người có thể tự do trong hoạt động của mình. Như vậy, tự do không có nghĩa là tùy tiện, bất chấp quy luật, trái lại, tự do chính là nhận thức được cái tất yếu và vận dụng cái tất yếu đó nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Tự do là sản phẩm của sự phát triển lịch sử. Cùng với quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội, khả năng nhận thức và vận dụng quy luật ngày càng cao, con người càng dần thoát khỏi ách “nô lệ” của tính tất yếu, dần trở thành những người chủ thật sự của tự nhiên và xã hội - quá trình phát triển của xã hội cũng là quá trình con người từng bước vươn tới tự do. VII. HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI 1. Các yếu tố tất yếu của sản xuất và đời sống 1.1. Hoàn cảnh địa lý Hoàn cảnh địa lý hay điều kiện của tự nhiên là một bộ phận của giới tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hoàn cảnh địa lý bao gồm: môi trường, hệ sinh thái, thời tiết, khí hậu, các nguồn tài nguyên v.v Xã hội là một hệ thống tự điều khiển bằng những quy luật đặc thù của mình, song điều đó không có nghĩa rằng xã hội có thể tồn tại biệt lập với tự nhiên. Hoàn cảnh địa lý là yếu tố thường xuyên tất yếu của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc tổ chức phân công lao động và phân bố lực lượng sản xuất. Tự nhiên có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất, do đó ảnh hưởng đến năng suất lao động. Ở những trình độ khác nhau của xã hội, mức độ ảnh hưởng của tự nhiên đối với xã hội cũng khác nhau. Trong quá trình phát triển của xã hội, mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội ngày càng được phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Tự nhiên tác động vào xã hội hoàn toàn mang tính chất tự phát, còn xã hội tác động vào tự nhiên là sự tác động có ý thức của con người. Ngày nay, vấn đề hoàn cảnh địa lý, môi trường sinh thái đang là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì sự phát triển bền vững đang là một yêu cầu bức bách của xã hội hiện đại. Sự tác động của con người có thể làm cho tự nhiên biến đổi theo hai hướng. Nếu con người tác động vào tự nhiên theo đúng quy luật của nó thì làm cho tự nhiên ngày càng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống con người. Ngược lại, nếu con người chỉ biết khai thác những cái sẵn có trong tự nhiên một cách bừa bãi, không tác động theo đúng quy luật của tự nhiên thì làm cho tự nhiên ngày càng nghèo nàn đi, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ và tự nhiên sẽ “trả thù” lại con người. Điều kiện tự nhiên là yếu tố thường xuyên tất yếu, nhưng không giữ vai trò quyết định sự phát triển xã hội. Phê phán những quan điểm duy tâm, phản động của thuyết địa lý chính trị, coi hoàn cảnh địa lý là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội, quyết định trình độ văn minh và vận mệnh của các dân tộc. 35