Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam (Phần 1)

pdf 54 trang hapham 4080
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_van_hoc_trung_dai_viet_nam_phan_1.pdf

Nội dung text: Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam (Phần 1)

  1. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ÐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC TRUNG ÐẠI VIỆT NAM I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học trung đại Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi, suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã phản ánh đƣợc đất nƣớc Việt, con ngƣời Việt, đồng thời là ý thức của ngƣời Việt về tổ quốc, dân tộc. Nền văn học ấy đã nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc vĩ đại của dân tộc, đồng thời lại là sức mạnh tham gia vào quá trình đấu tranh này. Chính từ văn học trung đại, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hƣởng rất rõ đến sự vận động của văn học hiện đại. Vì lẽ đó, nghiên cứu văn học trung đại nhằm mục đích: - Tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc trong một nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc - Nâng cao lòng tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc - Tìm hiểu những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời Ðại Việt xa xƣa - Góp phần lý giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc. II. NHỮNG YÊU CẦU CÓ TÍNH PHƢƠNG PHÁP LUẬN KHI NGHIÊN CỨU VHTĐ - Phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan, không võ đoán, phiến diện. - Phải có lƣợng kiến thức phong phú về ngôn ngữ, triết học, sử học đặc biệt là những hiểu biết về lịch sử và văn chƣơng Trung Quốc. - Phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học hiện đại để tìm ra sự kế thừa, phát triển. III. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI - Kho tàng VHTÐ đã mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan: + Do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy. + Do các vụ án chính trị có dính dáng đến các nho sĩ quan liêu, lực lƣợng sáng tác chủ yếu của văn học trung đại. + Do công tác bảo tồn, sƣu tầm tƣ liệu chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. - Một số tác phẩm chƣa xác định đƣợc thời điểm ra đời, tác giả, tính chính xác của văn bản - Việc tiếp cận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tƣ liệu để kiểm chứng. IV. CƠ SỞ HỆ Ý THỨC VÀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC 1.Cơ sở hệ ý thức: VHTÐ đƣợc sáng tác dựa trên cơ sở hệ ý thức Nho- Phật- Lão, chủ yếu là đạo Nho. Ảnh hƣởng của các học thuyết triết học này đã dẫn đến việc hình thành những nét đặc thù trong quan niệm của con ngƣời trung đại về: + Bản chất của vũ trụ 1 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  2. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam + Không gian và thời gian + Thiên nhiên + Con ngƣời Những quan niệm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trƣng về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn chƣơng trung đại. Vì vậy, muốn lý giải những vấn đề thuộc về bản chất của văn chƣơng trung đại, cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thời trung đại, tất yếu, phải dựa trên cơ sở những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới và đời sống con ngƣời ở thời kỳ trung đại. 2. Về quan niệm sáng tác Văn học viết là sản phẩm của trí thức dân tộc. Ngày xƣa, các tầng lớp trí thức luôn chịu ảnh hƣởng rõ rệt của Nho học. Từ lâu, Nho gia đã gắn văn với đạo: Văn sở dĩ tải đạo dã. Chu Ðôn Di đời Tống, qua nhận định của mình, thừa nhận một quan niệm rất quan trọng của rất nhiều thế hệ Nho gia trƣớc đó về tính chất và ý nghĩa của văn học. Quan niệm này coi văn là cái hình thức, cái để chứa, để chuyên chở đạo lý. Vì vậy, đạo mới chính là nội dung. Mệnh đề văn dĩ tải đạo và thi ngôn chí có thể khái quát đƣợc một cách căn bản quan niệm sáng tác của các nhà văn thời trung đại. Ngƣời xƣa đời hỏi tác phẩm phải thực sự chân thành, văn học phải là tiếng nói phát ra từ đáy lòng nhƣng nội dung đó phải đƣợc thống nhất trong một hình thức đẹp để phục vụ, làm cho nội dung thêm hay. Do nhận thức rằng văn là dùng để biểu hiện các chân lý phổ biến, là hình thức đẹp để chuyển tải nội dung đi xa (Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn- Khổng Tử) nên ở thời kỳ trung đại, phạm vi của văn học đƣợc quan niệm rất rộng. Từ công việc chép sử, luận triết học, viết chiếu, chế, biểu, cáo, hịch, đều trau chuốt hình thức câu văn sao cho ý đẹp lời hay. Văn dùng để chuyên chở đạo lý nên ngƣời xƣa rất xem trọng văn chƣơng. Nó có chức năng giáo hóa (giáo dục, làm thay đổi nhân cách của con ngƣời theo hƣớng tốt đẹp hơn) và di dƣỡng tính tình (giúp bản thân nhà văn thanh lọc tâm hồn, bày tỏ tâm sự trung quân ái quốc, nuôi dƣỡng nhân cách ngƣời quân tử). Nhìn chung, quan niệm Văn chở đạo ảnh hƣởng rất rõ đến mục đích viết văn, phạm vi đề tài, hình thức thể hiện. Tuy nhiên, càng tách rời khỏi giáo điều Nho gia, càng gần với thực tế cuộc sống dân tộc, các tác giả trung đại càng phát huy đƣợc mặt tích cực của quan niệm đó. Xu hƣớng này thể hiện rất rõ trong suốt chiều dài phát triển của VHTÐ. V. PHÂN KỲ LỊCH SỬ VHTĐ Lịch sử văn học luôn quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc, đến cuộc đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. Mỗi khi dân tộc bƣớc vào một thử thách mới, lập tức, nội dung văn học cũng phải có sự chuyển biến và dần dần diễn ra những thay đổi về nội dung, hình thức thể hiện. Lịch sử văn học có những quy luật nội tại và tính độc lập tƣơng đối của nó. Trong từng giai đoạn, có thể không có sự trùng hợp hoàn toàn giữa lịch sử văn học và lịch sử dân tộc nhƣng vẫn có thể căn cứ vào lịch sử dân tộc để phân kỳ lịch sử văn học, bởi, xét đến cùng, văn học bao giờ cũng là tấm gƣơng phản ánh trung thành thời đại. Căn cứ vào các yếu tố lịch sử, đặc trƣng nội dung và hình thức nghệ thuật, có thể phân kỳ lịch sử VHTÐ VN nhƣ sau: + Giai đoạn văn học Lý- Trần (Từ TK XI đến TK XIV) + Giai đoạn văn học đời Lê (TK XV) 2 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  3. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam + Giai đoạn văn học từ TK XVI đến nửa đầu TK XVIII + Giai đoạn văn học từ nửa sau TK XVIII đến nửa đầu TK XIX + Giai đoạn văn học nửa cuối TK XIX (Văn học yêu nƣớc chống Pháp) VI. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM 1. Chủ nghĩa yêu nƣớc và chủ nghĩa nhân đạo- hai dòng chủ lƣu của VHTÐVN. a. Chủ nghĩa yêu nƣớc: Văn hóa Ðại Việt, văn chƣơng Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phƣơng Bắc. Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm nhƣ dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại đƣợc tiến hành trong trƣờng kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nƣớc. Ðặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hƣớng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cƣờng, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gƣơng yêu nƣớc, những ngƣời anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc. Quá trình đấu tranh giữ nƣớc tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên, chế độ phong kiến có thể hƣng thịnh hay suy vong nhƣng ý thức dân tộc, nội dung yêu nƣớc trong văn học vẫn phát triển không ngừng. Các tác phẩm văn học yêu nƣớc thời kỳ này thƣờng tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu nhƣ: - Tình yêu quê hƣơng - Lòng căm thù giặc - Yï thức trách nhiệm - Tinh thần vƣợt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc - Ý chí quyết chiến, quyết thắng - Ðề cao chính nghĩa của ngƣời Việt Nam trong những cuộc kháng chiến. b. Chủ nghĩa nhân đạo Văn học do con ngƣời sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con ngƣời. Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại. Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hƣớng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hƣớng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo nhƣ: 3 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  4. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Khát vọng hòa bình - Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trƣớc hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp - Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con ngƣời, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến. - Ca ngợi vẻ đẹp của con ngƣời lao động - Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân. 2. Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian - Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian. Trong tình hình cụ thể của VHTÐVN, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do các nguyên nhân sau: + Sau khi nƣớc nhà độc lập, nhu cầu thiết yếu mà nhà nƣớc phong kiến Việt Nam cần phải chú ý là việc xây dựng một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mƣu bành trƣớng, đồng hóa của kẻ thù phƣơng Bắc và nâng cao lòng tự hào dân tộc. + Những tác phẩm bằng chữ Hán trong thời kỳ này thƣờng dễ xa lại với quần chúng bình dân, tác phẩm ít đƣợc truyền tụng rộng rãi. Vì vậy, càng về sau, nhu cầu quần chúng hóa, dân tộc hóa tác phẩm ngày càng mạnh mẽ. Trong quá trình giải quyết vấn đề này, chỉ có văn học dân gian là nhân tố tích cực nhất. Quá trình kế thừa, khai thác VHDG là một quá trình hoàn thiện dần các yếu tố tinh lọc từ VHDG bắt đầu từ thơ ca Nguyễn Trãi về sau (Thời Lý- Trần, việc tiếp thu nguồn VHDG chƣa đƣợc đặt ra đúng mức). + Văn học viết tiếp thu từ văn học dân gian chủ yếu là về đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mỹ, chủ yếu là khía cạnh ngôn ngữ và thể loại. + Trong quá trình phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau để cùng phát triển (Những tác động trở lại của văn học viết đối với văn học dân gian. 3. Văn học viết phát triển dựa trên cơ sở tiếp thu, tinh lọc những yếu tố tích cực của hệ ý thức nƣớc ngoài - Sự du nhập của các học thuyết vào Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau: + Vấn đề giao lƣu văn hóa giữa các dân tộc là một vấn đề mang tính quy luật. Từ xƣa, nƣớc ta và các vùng phụ cận đã có sự giao lƣu văn hóa nhƣng chỉ trong phạm vi hẹp, chủ yếu là từ Trung Quốc sang. + Hơn 1000 năm bắc thuộc, dân tộc ta không tránh khỏi bị ảnh hƣởng bởi sự bành trƣớng văn hóa và nhất là âm mƣu đồng hóa của kẻ thù. Những tên quan lại phƣơng Bắc sang đô hộ Việt Nam không chỉ bóc lột, vơ vét tài nguyên mà còn truyền bá rộng rãi các học thuyết triết học có nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm. + Khi nhà nƣớc phong kiến VN bắt đầu hình thành, giai cấp thống trị không có mẫu mực nào khác hơn là nhà nƣớc PK TQ đã tồn tại trƣớc đó hàng nghìn năm và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng các học thuyết triết học nhƣ một công cụ đắc lực trong việc củng cố ngai vàng, thống trị nhân dân. 4 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  5. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Các học thuyết Nho- Phật- Lão đều có những điểm tích cực nhất định nên các nhà tƣ tƣởng lớn của Việt Nam thời Trung đại đã chú ý khai thác, tinh lọc, vận dụng sao cho nét tích cực đó phát huy tác dụng trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử. 4. Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm Ngay từ khi đƣợc các nhà văn mạnh dạn đƣa vào sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng khẳng định vị trí của mình bên cạnh chữ Hán vốn đã có ảnh hƣởng sâu sắc trong văn học thời Lý Trần. Sự phát triển của Văn học chữ Nôm khẳng định ý thức dân tộc phát triển ngày càng cao, biểu hiện lòng tự hào, ý thức bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa dân tộc chống lại âm mƣu đồng hóa của kẻ thù. Ở thời Lý, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học chƣa đƣợc phổ biến. Từ thế kỷ XV về sau, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đƣa chữ Nôm vào sáng tác văn học. Thơ ông tuy chƣa đƣợc trau chuốt nhƣng đậm đà bản sắc dân tộc.Thành công của Nguyễn Trãi chính là tiền đề cho con đƣờng phát triển của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao Truyện Kiều. 5. Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi. Ở thời trung đại, văn chính luận mang tính quan phƣơng chủ yếu là công cụ của nhà nƣớc phong kiến. Mặt khác, những đặc thù trong tƣ duy nghệ thuật, truyền thống sáng tác dẫn đến một thực tế là các tác phẩm văn xuôi hình tƣợng chỉ chiếm một số lƣợng khiêm tốn so với các tác phẩm thơ ca. Thể thơ thƣờng sử dụng nhất trong VHTÐ là thơ Ðƣờng luật. Ðây là hệ quả của quá trình giao lƣu văn hóa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển. Trong thời kỳ này, thơ Ðƣờng luật đã đƣợc chính quy hóa trong văn chƣơng trƣờng ốc và văn chƣơng cử tử. Cho nên, sự thống trị văn đàn của thơ Ðuờng luật trong bất kỳ một tập thơ nào thời trung đại là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Ðƣờng luật với tƣ cách là một thể thơ chính thống trong các kỳ thi và trong sáng tác đã gây không ít trở ngại trong nội dung thể hiện do bị chi phối bởi sự ngặt nghèo của luật thơ chặt chẽ. Ở thời Nguyễn Trãi, thơ luật Ðƣờng biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, độc đáo, phóng khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách nói, tâm lý của dân tộc nên đƣợc một số nhà thơ đời sau tiếp tục sử dụng (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm). 6. Việc sử dụng điển tích và các hình ảnh tƣợng trƣng ƣớc lệ- những thủ pháp nghệ thuật đƣợc sử dụng phổ biến trong văn chƣơng trung đại Ðể miêu tả, ngƣời ta cho rằng cần phải có những mẫu mực mà qua nhiều thời kỳ đã đƣợc mặc nhiên chấp nhận sử dụng. Quan điểm ƣớc lệ không chú ý đến logic đòi sống, đến mối quan hệ thực tế của các hình ảnh mang tính chất mẫu mực, công thức. Vì thế, khi phân tích các hình ảnh ƣớc lệ, chúng ta không cần đặt vần đề có lý hay không có lý, đúng hay không đúng thực tế mà chỉ xem xét sức mạnh khơi gợi của hình tƣợng có sâu sắc hay không, hình tƣợng có đƣợc dùng đúng tình đúng cảnh và thể hiện đƣợc tƣ tƣởng tình cảm của nhà thơ hay không 5 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  6. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Chƣơng 2: KHÁI QUÁT VĂN HỌC LÝ- TRẦN Chọn thời đại Lý- Trần làm giai đoạn mở đầu cho VHTÐ Việt Nam, các nhà nghiên cứu nhằm khẳng định rằng đây chính là thời đại phục hƣng của văn hóa dân tộc, thời đại mở đầu cho nền văn minh Thăng Long, đánh dấu bƣớc trƣởng thành của một dân tộc vừa giành lại độc lập tự chủ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 1. Về chính trị: - Thời đại Lý- Trần đảm đƣơng hai sứ mệnh lịch sử to lớn: Hƣng văn trị và định vũ công, bảo vệ tổ quốc, chống họa xâm lăng và xây dựng nền móng vững chắc cho chế độ phong kiến vừa hình thành. - Ðời Lý, Lý Thƣờng Kiệt chống Tống; đời Trần, Trần Hƣng Ðạo chống Nguyên Mông (3 lần). Thời kỳ này, triều đại Lý- Trần còn phải tiến hành những cuộc chiến tranh chống họa xâm lăng phƣơng Nam (Chiêm Thành). Chiến tranh tất yếu phải có hủy hoại, hao ngƣời tốn của nhƣng tính chất chính nghĩa và thắng lợi vẻ vang của những cuộc kháng chiến vệ quốc đã tạo thêm khí thế hào hùng, bản lĩnh, sự tự tin cho một dân tộc nhỏ bé ở phƣơng Nam. - Mặt khác, thời đại Lý- Trần còn phải đảm đƣơng sứ mệnh xây dựng chế độ phong kiến, chế định kỷ cƣơng, điển lễ, văn hiến cho một quốc gia phong kiến có chủ quyền, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam trong các thế kỷ sau. 2. Về kinh tế: a. Chế độ đại điền trang là một đặc điểm kinh tế cơ bản thời Lý- Trần. Nó dựa trên cơ sở xâm lấn đất đai của các làng xã, biến ngƣời nông dân thành ngƣời nông nô. Ruộng đất trong thời kỳ này thuộc về công điền. Về thực tế, ruộng đất do các làng xã quản lý và sử dụng bằng cách chia cho nông dân lĩnh canh rồi nộp tô thuế cho triều đình. Ðó là nguồn thu nhập chủ yếu của chính quyền trung ƣơng vì ruộng đất công chiếm đại bộ phận trong thời đó. Vua có quyền lấy ruộng đất công bất kỳ lúc nào để dùng vào những mục đích riêng của mình. Theo Thiền uyển tập anh, sau kkhi chữa đƣợc bệnh cho Lý Thần Tông, nhà sƣ Nguyễn Minh Không bèn đƣợc phong mấy trăm hộ. Ruộng thực hộ là do nông dân tự do cày cấy và nộp tô. (Xét đến cùng, nến kinh tế độc lập- điền trang cho phép bọn quý tộc vừa có nông nô, địa vị, thế lực chính trị và đôi khi còn có cả lực lƣợng quân đội riêng trong điền trang. Ðây là một trở ngại lớn cho xu hƣớng trung ƣơng tập quyền khi chế độ phong kiến Việt Nam dần đi vào con đƣờng ổn định, phát triển) - Ở thời Lý, chế độ đại điền trang vẫn còn mang một số yếu tố tích cực nên vẫn có khả năng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội. - Ðến đời Trần, kinh tế đại điền trang đi vào con đƣờng lạc hậu. Vua chúa, quý tộc lợi dụng chính sách này để cƣớp giật ruộng đất của nông dân ngày càng nhiều. Sự khủng hoảng của nền kinh tế đại điền trang đã dẫn đến sự bùng nổ của rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông nô, nô tỳ và một số ý kiến cải cách của các sĩ phu. Tính chất công điền dần lỗi thời nhƣờng chỗ cho chế độ sở hữu cá nhân về mặt ruộng đất sẽ đƣợc thực hiện vào thời kỳ nhà Hậu Lê. - Những năm Hồ Quý Ly ở ngôi, ông đã có một số cải cách quan trọng về kinh tế đặc biệt là thực hiện nghiêm khắc chính sách hạn điền hạn nô nhƣng những cải cách đó đều thất bại do các nho sĩ và quần chúng không ủng hộ chế độ ngụy triều. b. Các triều vua đầu thời kỳ Lý- Trần đều rất quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp. Từ đời Lê Hoàn đã tổ chức lễ cày ruộng để thể hiện tinh thần coi trọng nghề nông (Cứ đến đầu tháng giêng, nhà vua đích thân cày một thửa 6 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  7. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam ruộng mở đầu năm sản xuất). Hệ thống đê ở các con sông lớn đƣợc quan tâm triệt để nhằm bảo vệ mùa màng, chống lụt lội. Các chức quan Hà đê (chánh sứ và phó sứ) đƣọc đặt ra để chuyên coi việc đào kênh ngòi, đắp đê phục vụ giao thông, thủy lợi. Việc mở rộng diện tích canh tác, tổ chức khuyến khích khai hoang cũng đƣợc quan tâm. c. Thủ công nghiệp, nhờ đƣợc quan tâm, cũng ngày càng phồn thịnh. Nghề dệt gấm, sản xuất nông cụ, vải lụa, đồ gốm, đồ sứ, đồ đồng, vũ khí, xe thuyền, khắc bản in, nung vôi, dệt the, đã phát triển mạnh ở các làng nghề, phƣờng hội truyền thống 3. Về xã hội Sự phát triển của các học thuyết Nho- Phật- Lão trong giai đoạn đầu tiên của chế độ phong kiến Việt Nam đã ảnh hƣởng sâu sắc đến sự hình thành, phân chia đẳng cấp trong xã hội Lý- Trần. Cụ thể: a. Ở thời Lý, đạo Phật lan truyền khắp nƣớc ta, có xu hƣớng phát triển thành quốc giáo, chủ yếu do các nguyên nhân sau: + Chiến tranh ly loạn, lòng ngƣời chán nản muốn tìm đến con đƣờng siêu thoát của đạo Phật. + Ðạo Phật đã du nhập vào Việt Nam khá sớm, trong thời kỳ Bắc thuộc và đã có ảnh hƣởng rất sâu sắc ở thời kỳ Ðinh, Tiền Lê. + Vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) là ngƣời xuất thân từ đạo Phật. (Ðời Lê Ngọa Triều, ông giữ chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Về sau, vua Lê Ngọa Triều hoang dâm, hung ác, triều thần nổi dậy lật đổ ngôi vua Tiền Lê, đƣa Lý Công Uẩn lên ngôi báu, sáng lập ra nhà Lý). Do xuất thân từ đạo Phật, Lý Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. + Nhân dân ta vốn có truyền thống nhân đạo nên rất dễ tiếp thu các lý thuyết từ bi, bác ái của đạo Phật - Vai trò độc tôn của Phật giáo đã dẫn đến việc phân chia các giai cấp trong xã hội thời Lý nhƣ sau: + Giai cấp đƣợc trọng vọng nhất thời Lý là giai cấp quý tộc và tăng lữ. Các nhà sƣ thƣờng có vị trí cao trong triều đình và thậm chí còn có mối quan hệ huyết thống với hoàng tộc. (Sƣ Viên Chiếu là ngƣời trong hoàng tộc, sƣ Mãn Giác là con quan đại thần, ) + Giai cấp quần chúng bị trị thời Lý gồm nông dân ở các làng xã, nông nô, nô tỳ ở các điền trang, thợ thủ công, lái buôn. b. Ở thời Trần, đạo Phật vẫn còn ảnh hƣởng rất sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc nhƣng vị trí độc tôn của nó đã dần phải nhƣờng chỗ cho Nho giáo do những nguyên nhân chủ yếu sau: - Từ triều Trần trở đi, tính chất trung ƣơng tập quyền cao hơn dẫn đến nhu cầu gạt bỏ vị trí cố vấn tối cao của các vị quốc sƣ trong triều đình. - Chính sách đề cử và thế tập bị bãi bỏ. Nhà Trần tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài vào làm việc cho triều đình. Nội dung thi cử là kinh sách của đạo Nho. Thực tế này đã dẫn đến việc hình thành một tầng lớp Nho sĩ tham gia ngày càng nhiều vào công việc triều chính, lấn át dần vị trí của các nhà sƣ tham gia triều chính trong giai đoạn trƣớc đó. Nhân sinh quan của các Nho sĩ có phần đối lập với nhân sinh qua Phật giáo vì thế, ngay từ rất sớm, đã diễn ra hàng loạt các cuộc đấu tranh trên phƣơng diện tƣ tƣởng của các Nho sĩ nhằm chống lại Phật giáo mà những ngƣời tiêu biểu là Ðàm Sĩ Mông, Lê Văn Hƣu, Trƣơng Hán Siêu, 7 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  8. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Do đạo Nho phát triển, nho sĩ trở thành giai cấp đƣợc trọng vọng bên cạnh giai cấp quý tộc và trở thành lực lƣợng chính trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, góp phần nắm giữ, thiết chế kỷ cƣơng, ca ngợi, bảo vệ uy quyền phong kiến và đấu tranh chống nạn ngoại xâm. Các giai cấp bị trị thời Trần vẫn là nông dân, nông nô, nô tỳ, thợ thủ công, lái buôn, 4. Về giáo dục và nghệ thuật: a. Việc giáo dục đã đƣợc quan tâm từ rất sớm. Năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn Miếu ở quốc đô Thăng Long. Năm 1075, Lý Nhân Tông mở khoa thi tam trƣờng và năm 1076 mở Quốc Tử giám chuyên lo việc giảng thuật Nho giáo. Các năm 1086, 1152, 1165, 1193 đều có mở kỳ thi. Ðến đời Trần, các kỳ thi Nho giáo đƣợc tổ chức thƣờng lệ và có quy mô rộng rãi hơn thời Lý. b. Tiếp thu những thành tựu rực rỡ của văn nghệ dân gian, các ông vua thời Ðinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã nối tiếp xây dựng một nền văn nghệ cung đình giàu bản sắc dân tộc. Ca múa nhạc cung đình ở các triều Lý- Trần đều bắt nguồn từ ca múa nhạc dân gian (Múa rối, hát chèo, hát tuồng thƣờng đƣợc các ông vua thời Lý- Trần đặc biệt yêu thích) Phần lớn các công trình kiến trúc điêu khắc ở thời Lý- Trần đã bị hủy hoại trong 20 năm đô hộ của giặc Minh nhƣng theo các tài liệu sử học, khảo cổ học và một số di chỉ còn lại, có thể khẳng định rằng vƣơng triều Lý- Trần đã cho xây dựng nhiều công trình lớn (Năm 1031, có 950 ngôi chùa đƣợc xây. Tháp Báo Thiên cao 12 tầng. Tháp Sùng Thiên ở Sơn Nam, Hà Nam Ninh ngày nay, cao đến 13 tầng. Các di tích chùa Một cột, chùa Keo, chùa Thầy, tháp Bình Sơn, chuông Quy Ðiền, đều cho thấy sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lý Trần) II VĂN HỌC ĐỜI LÝ 1. Văn học đời Lý mang nặng hệ ý thức Phật giáo a. Ðặc điểm của văn học đời Lý là lực lƣợng các nhà sƣ sáng tác chiếm đa số trên văn đàn. Theo sách Thiền uyển tập anh, đời Lý có khoảng hơn 40 nhà sƣ sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu nhƣ: Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm, Trong số đó, nhiều nhà sƣ chiếm địa vị cao trong xã hội và triều đình nhà Lý. Sự thống lĩnh văn đàn chủa các nhà sƣ đời Lý có thể giải thiïch bằng những nguyên nhân sau: - Ở thời kỳ này, Phật giáo chiếm địa vị độc tôn trong đời sống tinh thần của dân tộc. Sự bành trƣớng của Phật giáo dẫn đến nhu cầu rộng rãi trong nhân dân là tìm hiểu, học tập những vấn đề triết lý của đạo Phật. Ðể đáp ứng nhu cầu đó, bên cạnh việc thuyết giảng, các nhà sƣ còn tìm cách truyền phổ đạo Phật bằng cách thể hiện các nội dung triết lý vốn rất trừu tƣợng khó hiểu qua hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu để giúp ngƣời học đạo đƣợc thuận lợi hơn trong quá trình nghiên cứu, học tập. - Văn học thời kỳ này viết bằng chữ Hán nên chủ yếu, chỉ có các nhà sƣ mới có đủ trình độ uyên bác để sáng tác thơ văn b. Thiền Tông là chi phái thể hiện khà rõ quan niệm triết học trong tác phẩm của các nhà sƣ đời Lý. Nó thiên về sự tu dƣỡng tự thân, lấy tâm định làm phép tu dƣỡng. Ðiều này đƣợc Thƣợng sĩ Trần Quốc Tảng tóm tắt trong một câu ngắn gọn nhƣng có giá trị khái quát toàn bộ những vấn đề cơ bản của triết học Thiền tông: Phật tức tâm, tâm tức Phật (Phật tâm ca) c. Quan niệm Thiền tông rất gần với đạo Phật nguyên thủy ở thuyết phiếm thần luận, cho rằng: 8 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  9. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam + Thiên địa vạn vật cùng một bản thể và chính vì thế, trƣớc đức Phật, mọi ngƣời đều bình đẳng. Dựa trên quan niệm đó, văn học Phật giáo đời Lý thƣờng thể hiện sự tƣơng đồng, sự vĩnh cửu của bản ngã Bát nhã chân vô tông Nhân không ngã diệc không Quá hiện vị lai Phật Pháp tính bản tương đồng (Lý Thái Tông) Bản ngã của mọi ngƣời đều giống nhau, đều quy về chữ Không vốn là bản thể vũ trụ, là cái hằng thƣờng, bất diệt, là điểm tận cùng của mọi quá trình biến đổi. Cho nên, Ðoàn Văn Khâm trong bài Vãn Quảng Trí thiền sƣ đã viết: Các đạo hữu không nên đau thƣơng về sự vĩnh biệt Nùi sông trƣớc chùa trông ra ấy là chân hình của nhà sƣ Nhà sƣ đã mất nhƣng chân thể, bản thể vẫn còn tồn tại trong thế giới, trong vạn vật. Ðó chính là sự tƣơng đồng và vĩnh cửu của bản ngã. + Quan niệm Sắc không cho rằng thế giới biến hóa vô cùng. Kiều Bản Tịnh trong Kính trung xuất hình tƣợng đã so sánh cái có trong thế giới hiện hữu của con ngƣời thực chất chỉ là huyễn, cái không mới chính là thực, là sự tồn tại vĩnh cửu của con ngƣời. Ðiều này giống nhƣ sự tồn tại của cái bóng trong gƣơng: Huyễn thân bản tự không tịch mịch Do như kính trung xuất hình tượng Hình tượng giác liễu nhất thiết không Huyễn thân tu du chứng thực tướng Nguyên phi Ỷ Lan kêu gọi hãy gạt bỏ mọi phán đoán về cái sắc và cái không trong thế giới vật chất và chỉ có nhƣ vậy, ngƣời học đạo mới tiến đến chỗ khế hợp với chân tông: Sắc tức không, không thị sắc Không thị sắc sắc tức không Sắc không câu bất quản Phương đắc khế chân tông Bài kệ nổi tiếng Cáo tật thị chúng của nhà sƣ Mãn Giác là một ví dụ tiêu biểu cho quan niệm sắc không thâm thúy của nhà Phật qua sự đối sánh giữa thời gian tuần hoàn, vô cùng vô tận của vũ trụ với thời gian tuyến tính ngắn ngủi trong cuộc đời con ngƣời. Bài thơ tuy thể hiện quan niệm triết học của Phật giáo nhƣng cũng mang lại niềm hy vọng cho con ngƣời trong cuộc sống: Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai 9 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  10. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai d. Tuy nhiên, là nhà thơ, các vị tăng lữ vẫn trải cảm xúc chân thành của mình trong những bài thơ tả cảnh thiên nhiên tƣơi đẹp. Khung cảnh thiên nhiên trong thơ của các nhà sƣ vẫn chịu sự chi phối của cái nhìn sắc không. Chẳng hạn: Vạn lý thanh giang vạn lý thiên Nhất thôn tang giá nhất thôn yên Ngư ông thụy trước vô nhân hoán Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền (Ngƣ nhàn- Không Lộ) e. Mặt khác, trong thơ văn của các nhà sƣ đời Lý, ta còn có thể bắt gặp những tƣ tƣởng tích cực, tiến bộ, xa lạ với quan niệm của phật giáo chính thống: - Những ý kiến chống quan điểm giáo điều của trƣờng phái cực đoan cho rằng phải tuyệt đối thoát ly trần tục. - Thái độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của các nhà sƣ, khát vọng hòa nhập vào cuộc đời, tham gia gánh vác những khó khăn của đất nƣớc trong thời kỳ đầu xây dựng. 2. Thơ văn đời Lý phản ánh tinh thần yêu nƣớc, lòng tự hào dân tộc Có thể nói, bắt đầu từ thời Lý, truyền thống yêu nƣớc trong văn học hình thành và phát triển mãi mãi trong các giai đoạn sau. Hai tác giả tiêu biểu của chủ nghĩa yêu nƣớc trong văn học đời Lý là Lý Công Uẩn và Lý Thƣờng Kiệt. Chủ đề yêu nƣớc trong thơ văn họ thƣờng thể hiện ở những cung bậc trầm hùng khác nhau nhƣng ý nghĩa chung nhất vẫn là tiếngnói lạc quan, chiến đấu của thời đại, tiếng nói tự hào của một dân tộc đang vƣợt qua những thử thách để khẳng định mình a. Tác giả Lý Công Uẩn: Trong lịch sử văn học, tên tuổi của ông gắn liền với bài Chiếu dời đô có giá trị lịch sử to lớn bởi lẽ việc đổi quốc hiệu, quốc đô đánh dấu bƣớc chuyển mình trong công cuộc xây dựng cơ đồ độc lập tự chủ của dân tộc Ðại Việt, đáp ứng nhu cầu củng cố vƣơng quyền phong kiến và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Giá trị văn học của tác phẩm là ở chỗ nó đánh dấu những thành công bƣớc đầu về nghệ thuật viết văn chính luận trong VHTÐ. Bài chiếu đã nâng Lý Thái Tổ lên một tầm cao khác thƣờng. Nó khẳng định một cái nhìn đúng đắn về xu hƣớng phát triển tất yếu của lịch sử của vị vua khai sáng nhà Lý cách đây gần nghìn năm. b. Tác giả Lý Thƣờng Kiệt: Tên tuổi của ông gắn liền với chiến công chống Tống và hai tác phẩm có giá trị là Văn lộ bố và bài thơ Thần. - Văn lộ bố: 10 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  11. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ðặc điểm của bài văn là ngắn gọn, trang trọng, nêu cao chính nghĩa, vạch trần phi nghĩa, lời lẽ hòa nhã nhƣng không kém phần đanh thép và thuyết phục - Bài thơ Thần: Chiến thắng quân Tống vẻ vang gắn liền tên tuổi của Lý Thƣờng Kiệt với bài thơ Nam quốc sơn hà nổi tiếng. Ra đời trong khoảnh khắc nhƣng bài thơ lại có giá trị vĩnh viễn bởi nó biểu hiện bản lĩnh, khí phách dân tộc, khẳng định chân lý ngàn đời: chính nghĩa bao giờ cũng thắng phi nghĩa. Bài thơ còn là viên ngọc quý trong kho tàng văn học cổ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư 3. Nhận định chung về văn học đời Lý: - Với một lực lƣợng sáng tác đông đảo, các nhà sƣ đời Lý đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn học cổ. Hƣớng sáng tác của các nhà sƣ tuy tập trung thuyết lý cho đạo phật nhƣng vẫn chứa đựng những yếu tố tích cực. - Giá trị chủ yếu của văn học đời Lý vẫn là những tác phẩm thể hiện chủ nghĩa yêu nƣớc mà trong đó, Chiếu dời đô và bài thơ Thần là hai viên ngọc ngời sáng, một bản tuyên ngôn dựng nƣớc, một bản tuyên ngôn giữ nƣớc. Số lƣợng sáng tác không nhiều nhƣng chủ nghĩa yêu nƣớc vẫn đƣợc nêu cao và hình thành nhƣ một truyền thống phát triển mãi mãi trong các giai đoạn sau. III. VĂN HỌC ĐỜI TRẦN 1. Bối cảnh lịch sử và những đồi thay trong tầng lớp nho sĩ đời Trần - 1226- Nhà Trần cƣớp ngôi nhà Lý - 1257, 1285, 1287- ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông - Nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc gắn liền với xây dựng đất nƣớc. - Thuật trị nƣớc khoan sức dân tiến bộ đời Trần đã kích thích xã hội ngày càng ổn định và phát triển - Tầng lớp Nho sĩ trở thành lực lƣợng chính tham gia xây dựng đất nƣớc. Họ gần gũi với quần chúng hơn nên thơ họ phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng. - Những vấn đề văn hóa, xã hội, nghệ thuật cũng phát triển mạnh mẽ dƣới triều Trần. 2. Nội dung văn học: a. Văn học Trần phản ánh lòng yêu nƣớc tinh thần dân tộc - Cũng nhƣ mảng thơ văn đời Lý, văn học đời Trần tập trung xoáy mạnh vào đề tài chống quân Nguyên xâm lƣợc với cảm hứng chủ đạo là lòng yêu nƣớc và tinh thần tự hào dân tộc. Ðiển hình cho chủ nghĩa yêu nƣớc trong văn 11 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  12. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam học đời Trần là tác phẩm Hịch tƣớng siî của Trần Quốc Tuấn, bởi lẽ tác phẩm tập trung phản ánh những khía cạnh sâu sắc nhất của lòng yêu nƣớc cao độ. Ðây là một tác phẩm có giá trị lịch sử và văn học cao, khẳng định bƣớc tiến của lịch sử dân tộc và lịch sử văn học. - Bên cạnh đó, cuộc chiến đấu chống Nguyên Mông cũng là đề tài phong phú của nhiều nhà thơ khác đời Trần. Tác phẩm của họ mang âm hƣởng chung hào hùng, ca ngợi khí phách, chiến thắng vẻ vang của dân tộc: Ðoạt sóc Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tử quan Thái bình tu nỗ lực Vạn cổ thử giang san (Tùng giá hoàn kinh sƣ- Trần Quang Khải) Các nhà thơ thƣờng tập trung miêu tả hào khí Ðông A bằng những hình ảnh đẹp đẽ, kỳ vĩ cùngvới ý thức trách nhiệm của mỗi ngƣời công dân trong công cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc: Hoành sóc giang san cáp kỷ thu Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu (Thuật hoài- Phạm Ngũ Lão) Các nhà thơ cũng chú ý nêu cao sức mạnh của chính nghĩa, của vấn đề đức trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc: Giặc tan muôn thuở thanh bính Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao (Bạch Ðằng giang phú- Trƣơng Hán Siêu ) Nội dung yêu nƣớc không chỉ đƣợc thể hiện trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống xâm lƣợc mà còn phát triển trên những khía cạnh tình cảm phong phú của nhà thơ. Có khi, đó là nỗi nhớ nhà thầm lặng nhƣng mãnh liệt của một nhà Nho xa quê hƣơng: Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm nở hoa cua béo ghê Nghe nói quê nhà nghèo vẫn tốt Giang Nam vui thú chẳng bằng về (Quy hứng- Nguyễn Trung Ngạn) 12 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  13. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Có khi, đó là niềm khát khao đƣợc xây dựng một đất nƣớc thịnh vƣợng hòa bình muôn đời: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá Non sông nghìn thuở vững âu vàng (Xuân nhật yết Chiêu lăng- Trần Nhân Tông) Yêu nƣớc còn đƣợc thể hiện bằng niềm hạnh phúc đƣợc nhìn thấy đất nƣớc hòa bình, đƣợc sống trong hòa bình: Trăng vô sự chiếu người vô sự Nước ngậm thu lồng trời ngậm thu Bốn bề đã yên nhơ đã lắng Chơi năm nay thú vượt năm xưa (Hạnh Thiên Trƣờng hành cung- Trần Thánh Tông) Có thể nói, trong lịch sử dân tộc, vƣơng triều nhà Trần là một vƣơng triều hùng mạnh nhất. Ðây là thời kỳ mà mọi ý thức về quốc gia dân tộc đều phát triển mạnh mẽ và đó cũng chính là nền tảng cho sự phát triển của văn học yêu nƣớc. b. Văn học đời Trần thể hiện lòng yêu mến cảnh thiên nhiên tƣơi đẹp So với thiên nhiên trong thơ văn đời Lý, thiên nhiên trong thơ văn đời Trần thực hơn, đẹp hơn. Các nhà thơ đã bắt đầu chú ý miêu tả đời sống thôn dã bình dị. Cảm xúc đƣợc thể hiện tinh tế hơn. Ðặc biệt, qua việc miêu tả thiên nhiên, các tác giả thƣờng chú ý bộc lộ niềm tự hào về những chiến tích oanh liệt của dân tộc. Bài thơ Thiên Trƣờng vãn vọng của Trần Nhân Tông là một trong những ví dụ tiêu biểu cho cái nhìn mới của các nhà thơ đời Trần đối với cuộc sống bình dị của ngƣời lao động: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền Cảnh vật đƣợc miêu tả bằng ngôn từ giản dị nhƣng vẫn thể hiện đƣợc cái thần, cái đẹp của bức tranh đƣờng đi Lạng Sơn, cảnh chùa Bảo Phúc, động Chi lăng, Thạch Môn sơn, cảnh Thiên Trƣờng, cảnh hồng rụng, tiếng chuông văng vẳng, tiếng sáo thuyền câu, : Mƣa tạnh vƣờn cây màn biếc rủ Tiếng ve chiều tối rộng bên tai (Hạ cảnh- Trần Thánh Tông) Hoặc: Cổ tự thê lương thu ái ngoại 13 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  14. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ Thủy minh, sơn tĩnh, bạch âu quá Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ (Lạng Sơn vãn cảnh-Trần Nhân Tông) Cảm xúc và cách miêu tả của nhà thơ thực sự tinh tế: Thụy khởi khải song phi Bất tri xuân dĩ quy Nhất song bạch hồ điệp Phách phách sấn hoa phi (Xuân hiểu- Trần Nhân Tông) Yêu thiên nhiên, các nhà thơ càng tự hào hơn nữa về những chiến tích oanh liệt của dân tộc: Lâu Lãi hang sâu hơn đáy giếng Chi Lăng ải hiểm tựa trời cao Ngựa leo, gió lướt ngoảnh đầu lại Cửa khuyết trời tây mây ráng treo (Ải Chi Lăng- Phạm Sƣ Mạnh) Các tác giả thƣờng khai thác đề tài sông Bạch Ðằng với cảm hứng ca ngợi đầy sảng khoái, tự hào: Ánh nước chiều hôm màu đỏ khé Tưởng rằng máu giặc vẫn chưa khô (Bạch Ðằng giang- Trần Minh Tông) Có thể nói, thiên nhiên trong thơ văn đời Trần hết sức phong phú đa dạng. Các nhà thơ đã phát hiện, cảm nhận những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên chứng tỏ họ ngày càng gắn bó hơn với cuộc đời, với con ngƣời. c. Tinh thần nhân đạo và tƣ tƣởng bi quan yếm thế trong thơ văn đời Trần - Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ văn đời Trần chủ yếu thể hiện qua sự tn tƣởng vào khả năng của con ngƣời, khát vọng một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc, không còn chiến tranh đổ máu, chết chóc. Trƣơng Hán Siêu ca ngợi cái đức, cái chính nghĩa của dân tôc Ðại Việt. Sử Hy Nhan trong Trảm xà kiếm bộc lộ ý muốn gói giáo kiếm vào da hùm, rèn binh khi làm nông cụ và tuyên bố rõ thái độ chán ghét chiến tranh: Kiếm này! Kiếm này là vật chẳng lành 14 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  15. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Bậc thánh túng kế mới dùng phải đâu vật quý - Tuy nhiên, càng về sau, nhà Trần không tránh khỏi con đƣờng suy thoái. Một số nhà nho tiết tháo chán nản lui về cảnh sống ẩn dật trong một tâm trạng đầy uất hận. Thơ của họ bộc lộ rõ nỗi đau của kẻ sĩ chân chính bất lực trƣớc tình cảnh khốn cùng của quần chúng. Những tƣ tƣởng yếm thế thoát ly của họ chứa đựng ít nhiều giá trị tích cực khi thấm nhuần tinh thần nhân đạo cao cả: Hạn rồi qua lụt đã bao phen Thương nỗi đồng điền lúa chẳng lên Ðống sách hóa ra chồng giấy nát Bạc đầu luống những phụ dân đen (Nhâm dần lục nguyệt tác- Trần Nguyên Ðán) Không chỉ đau thƣơng, phẫn uất, các nhà thơ còn bộc lộ niềm mong ƣớc, khát vọng cứu dân giúp đời của kẻ sĩ chân chính: Ví làm ống bễ lò rèn được Thổi thấu lòng người khắp chín châu (Nguyễn Phi Khanh) Hoặc: Liễu phố tam thu vũ Quân bồng bán dạ thanh Cô đăng minh hựu diệt Hồ hải thập niên tình (Hoàng giang dạ vũ- Nguyễn Phi Khanh) - Tất nhiên, càng khát vọng, họ càng rơi vào cảnh bế tắc, tuyệt vọng cho nên, thơ của họ chứa đựng những tình cảm bi quan, tiêu cực: Trước mắt mọi chuyện đều đáng lo Hết bệnh sao bằng bệnh vẫn mang (Nguyễn Phi Khanh) 3. Nhận xét chung về thơ văn đời Trần - Thơ văn đời Trần đánh dấu một bƣờc phát triển mới của VHTÐ - Chủ đề yêu nƣớc là chủ đề tập trung và đạt đƣợc nhiều thành tựu trong văn học đời Trần. Tuy nhiên, thời kỳ này chƣa có những tác phẩm mô tả một cách toàn bích cuộc chiến đấu mang tầm vóc lịch sử to lớn. Ðây là một thiết sót mà văn học thế kỷ XV sẽ bổ sung 15 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  16. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam CHƢƠNG 3: VỀ TÁC PHẨM “HỊCH TƢỚNG SĨ” CỦA TRẦN QUỐC TUẤN I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI Những ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của bài hịch - Ý kiến 1: Cho rằng tác phẩm ra đời vào năm 1285 khi quân Nguyên Mông kéo sang nƣớc ta lần thứ II. (Trần Trọng Kim, Bùi Văn Nguyên, ) - Ý kiến 2: Cho rằng bài Hịch phải ra đời trƣớc thời điểm 1285 (Khoảng 1282- 1283) ( Quan niệm của Hà Văn Tấn trong Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lƣợc ở thế kỷ XIII) - Ý kiến 3: Cho rằng bài Hịch cần phải ra đời sớm hơn thời điểm 1282. II THỂ LOẠI - Hịch thuộc loại văn chính luận đƣợc vua, lãnh tụ khởi nghĩa hay tƣớng lĩnh quân đội viết ra nhằm động viên mọi ngƣời chiến đấu. Văn phong hịch trang trọng, cách xƣng hô rõ ràng, lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lý. III. TỰA ĐỀ CỦA BÀI HỊCH Hƣng Ðạo đại vƣơng dụ chƣ tỳ tƣớng hịch văn. Qua tựa đề có thể xác định: - Tác giả viết bài hịch - Ðối tƣợng chủ yếu cần thuyết phục - Thể loại của tác phẩm IV. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM 1. Nêu gƣơng trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nƣớc 2. Tâm trạng của tác giả trƣớc họa xâm lăng và mối quan tâm của tác giả đối với các tỳ tƣớng. 3. Phê phán thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của các tỳ tƣớng và vạch ra hậu quả tai hại của nó. 1. 4. Xác định nhiệm vụ của các tỳ tƣớng trong tình thế khó khăn của đất nƣớc và khẳng định lập trƣờng quan hệ bạn thù. CHƢƠNG 4: KHÁI QUÁT VĂN HỌC THẾ KỶ XV I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 1. Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV 16 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  17. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Chế độ phong kiến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIV bƣớc vào tình trạng suy sụp nghiêm trọng. - Các vị vua cuối đời Trần ngày càng phản bội lại lợi ích của nhân dân, tự mãn, ăn chơi sa đọa. Chính sách thuế khóa thắt ngặt. Bọn quý tộc lợi dụng chế độ Ðại điền trang để cƣớp đoạt ruộng đất của nông dân biến họ thành nông nô và nô tỳ. Nền kinh tế bị kìm hãm cùng với nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên miên khiến nhân dân phải rơi vào tình cảnh cùng khốn, bất mãn dẫn đến sự bùng nổ của rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và nông nô - Sự rối ren từ nhiều phía tạo nên một hoàn cảnh xã hội đầy phức tạp và mâu thuẫn dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của triều đại nhà Trần. 2. Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam thế kỷ XV a. Chính sách cải cách của nhà Hồ: Năm 1400, Hồ Quý Ly cƣớp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ. Ông là ngƣời có tài, có đầu óc tiến bộ, cải cách, có cái nhìn thực tế trƣớc tình thế nguy ngập của đất nƣớc. Ông đƣa ra một loạt cải cách quan trọng: - Thiên đô về Thanh Hóa - Tăng cƣờng quân sự võ bị - Ðề ra chính sách hạn điền hạn nô - Phát hành tiền giấy - Mở khoa thi chọn ngƣời tài với quan điểm trọng chữ Nôm hơn chữ Hán. Tháng 11 năm 1406, quân Minh lấy chiêu bài Phù Trần diệt Hồ tràn sang xâm lấn nƣớc ta. Hồ Quý Ly tiến hành chống giữ nhƣng thế yếu lại không đƣợc nhân dân tin theo nên đành chịu thất bại. Tháng 4- 1407, trận phản công cuối cùng của Hồ Quý Ly cũng đại bại, cha con và toàn bộ triều thần bị bắt về Ttrung Quốc. b. Ách đô hộ của nhà Minh Sau khi bình định đƣợc nƣớc ta, nhà Minh thiết lập một chhế độ cai trị hà khắc và dã man: - Ðổi nƣớc ta thành Giao Chỉ, đặt bộ máy cai trị với hệ thống đồn trại khắp nơi để tiến hành trấn áp ngay những cuộc khởi nghĩa của ngƣời Việt. - Bóc lột nhân dân bằng hệ thống thuế khóa, khai thác, vơ vét tài nguyên, khoáng sản. - Tiến hành chính sách đồng hóa, ngu dân, bắt ngƣời dân theo phong tục phƣơng Bắc, thiêu hủy kkho tàng, sách vở, bia mộ, hạn chế trƣờng học, tuyên truyền mê tín dị đoan. (Sắc lệnh của Minh Thành Tổ, ngày 21/8/1406: Bắt và giải về Trung Quốc những ngƣời giỏi kinh sử, làm thuốc, địa lý, coi số âm dƣơng, bói toán, đờn ca, cũng nhƣ nghệ nhân, nhạc công, những thơ chuyên nghiệp gỏi về gạch ngói, chế thuốc súng, biết điều khiển thuyền đi sông, đi biển. Ðối với các hạng kể sau- nghệ nhân, công nhân chuyên nghiệp- thì sắc truyền phải bắt tất cả gia tiểu, đem toàn số về Yên Kinh Sắc lệnh 1407: 17 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  18. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ta thƣờng bảo các ngƣời nhất thiết An nam có thƣ bản văn tự gì cho đến các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ và các bia mà xứ ấy lập ra, hễ thấy là phải phá huỷ ngay lập tức, một mảnh, một chữ cũng không để còn. Nay nghe nói những sách vở quân lính bắt đƣợc không ra lệnh đốt ngay, để xem xét rồi mới đốt. Từ nay phải làm đúng lời sắc truyền cho quân lính hễ bất cứ ở nơi nào nếu thấy sách vở, văn tự là phải đốt ngay lập tức, không đƣợc lƣu lại. - Trong tình hình đó liên tiếp những cuộc khởi nghĩa bùng nổ điển hình là hai cuộc khởi nghĩa của các vị tông thất nhà Trần là Giản Ðịnh đế và Trùng Quang Ðế nhƣng do sứ mệnh lịch sử của nhà Trần đã chấm dứt nên cả hai cuộc khởi nghĩa lớn này đều thất bại. c. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1417- 1427) Ðƣợc tiến hành trong 10 năm dƣới sự chỉ huy của Lê Lợi, một ngƣời hào trƣởng đất Lam Sơn. Ông biết dựa vào dân, tập hợp quần chúng, dấy động phong trào kháng chiến mạnh mẽ. Cuộc khởi nghĩa trải qua những thất bại ban đầu nhƣng sau đó, nhờ biết tập hợp sức mạnh của nhất dân, biết vận dụng những chiến lƣợc, chiến thuật tài tình nên cuộc khởi nghĩa đã phát triển mạnh và tiiến đến thắng lợi hoàn toàn vào cuối năm 1427. Thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh dấu một bƣớc ngoặc mới trên con đƣờng trƣởng thành của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh trị của triều đại Hậu Lê. d. Giai đoạn xây dựng, củng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến Hậu Lê ở nửa sau thế kỷ XV. Kháng chiến thành công, Lê Lợi lên ngôi vua lập nên nhà Hâụ Lê. Tuy nhiên, Lê Thái Tổ chỉ là ngƣời đặt nền móng. Phải đợi đến triều đại của Lê Thánh Tông, chính quyền phong kiến hậu Lê mới thực sự bƣớc đến giai đoạn cực thịnh. Ở thời Lê, các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, đều phát triển mạnh mẽ: - Về chính trị, Lê Thánh Tông chủ trƣơng xây dựng một chính quyền quân chủ chuyên chế cao độ, tất cả quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua. Thế lực của tầng lớp đại quý tộc bị hạn chế tối đa, chính sách thân dân tiết kiệm đƣợc thực hiện nghiêm túc nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa nhân dân với giai cấp thống trị. - Về kinh tế, nhà Lê thủ tiêu chế độ đại điền trang, thi hành chính sách quân điền, thực hiện lĩnh canh nộp thuế (Phƣơng thức sở hữu cá nhân về mặt ruộng đất). - Dƣới triều Lê Thánh Tông, một ông vua hay chữ, siêng năng đọc sách và làm chính trị, việc giáo dục, thi cử, Nho học đƣợc kích thích phát triển mạnh mẽ. II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC 1. Một số đặc điểm của văn học thế kỷ XV - Hai nội dung chủ yếu của văn học thế kỷ XV: + Ca ngợi cuộc kháng chiến chống Minh và ngƣời anh hùng Lê Lợi- Tập trung thể hiện trong các tác phẩm ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XV + Ca ngợi sự thịnh trị của triều đại Hậu Lê và vua Lê Thánh Tông- tập trung thể hiện trongcác tác phẩm ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XV 18 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  19. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Sự thể hiện rõ nét hình ảnh quần chúng, những ngƣời làm nên lịch sử và những quan niệm mới về đất nƣớc, dân tộc của các nhà tƣ tƣởng thời Hậu Lê. - Văn học phản ánh phần nào ý thức cá nhân và khuynh hƣớng trữ tình. 2. Những nội dung chính: a. Nội dung yêu nƣớc, ca ngợi tinh thần quật khởi anh dũng và chiến thắng vẻ vang của dân tộc: Thơ văn viết về đề tài này tập trung vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XV, phát triển mạnh mẽ, đa dạng với nhiều loại thể nhƣ: thực lục, chiếu, chế, biểu, cáo, văn bia, thơ, phú. Nổi bật nhất và thành công nhất chính là tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Rất nhiều bài phú xoay quanh chủ đề chống Minh xâm lƣợc và chiến thắng oanh liệt của dân tộc. Nhiều ngƣời cùng làm đề tài giống nhau, lựa chọn thể loại sáng tác giống nhau nhƣng ý tứ, tình cảm, phong cách có những khác biệt tạo nên tính đa dạng, phong phú cho các tác phẩm phú thời kỳ này (Cùng đề tài Núi Chí Linh, rất nhiều tác giả đã viết phú núi Chí Linh nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn Thời kỳ này còn chứng kiến sự phát triển vƣợt bậc của loại văn chính luận mà Nguyễn Trãi kế thừa ở những thời kỳ trƣớc, phát triển thành một thứ vũ khí sắc bén phục vụ cho chiến thuật Tâm công đặc sắc. Nội dung chủ yếu của các tác phẩm xoay quanh quá trình chiến đấu từ lúc gian khổ, nếm mật nằm gai: Trời đất mịt mờ đang lúc Sấïm mây gian khổ những ngày (Chí Linh sơn phú- Nguyễn Mộng Tuân đến lúc trƣởng thành, chiến thắng oanh liệt: Bốn cõi mây mờ quét sạch Giữa trời ánh sáng huy hoàng (Xƣơng giang phú- Lý Tử Tấn) - Các tác giả thƣờng ca ngợi chính nghĩa, xem đó là cơ sở, giá trị của chiến thắng: Nếu không gặp thánh tổ sao được gọi là hiểm Nếu không nhân chiến thắng sao truyền mãi danh (Phú Xƣơng Giang- Lý Tử Tấn) - Hơn thế, các tác giả còn ca ngợi, so sánh công lao của Lê Lợi với công lao của Hán Cao Tổ, ngƣời sáng lập cơ nghiệp nhà Hán: Cờ nghĩa vua ta cao phất Che rợp cả bậc Hán Ðường 19 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  20. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam (Phú cờ nghĩa- Nguyễn Mộng Tuân) - Ca ngợi công cuộc xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ mới: Phòng ngừa bờ cõi cần ra sức Giữ vững cơ đồ phải gắng công (Chinh Ðèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê- Lê Lợi) - Thể hiện niềm tự hào sâu sắc: Thung mộc mai hà xuân thảo lục Ðộc lâu khiếu nguyệt dạ triều hàn (Hàm Tử quan- Nguyễn Mộng Tuân) (Chông gỗ chốn lòng sông bờ cỏ mùa xuân xanh biếc- Ðầu lâu kêu bóng nguyệt ngọn triều đêm tối lạnh lùng) b. Nội dung thù phụng, ca ngợi sự thịnh trị của chế độ phong kiến và tài đức của vua Lê Thánh Tông. Văn học nửa sau thế kỷ XV chứng kiến một sự bột phát về cả số lƣợng lẫn chất lƣợng tác phẩm. Lực lƣợng sáng tác chủ yếu là các nho sĩ quan liêu, nhất là các triều thần đƣợc Lê Thánh Tông tuyển chọn vào Hội Tao Ðàn. Các nhà thơ sáng tác dƣới sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà vua về đề tài, cảm hứng nên đôi khi, khuynh hƣớng ca ngợi, thù tạc không kém phần khiên cƣỡng, thụ động. Một số tác giả không chịu sự gò bó theo những khuôn mẫu của văn học cung đình và đã có những nét tiến bộ rõ rệt trong nội dung sáng tác: Nguyễn Trực có nhiều nét độc đáo trong cách miêu tả thiên nhiên đơn giản nhƣng có ý nghĩa sâu sắc: Xa đất nên bụi ít Trên cao được trăng nhiều (Chùa Cực lạc) Thái Thuận chú ý đến cái bình thƣờng, dung dị của đời sống đồng quê: Nhà cỏ in làn khói Thuyền con ghé mái bồng Trẻ con ba bốn tốp Bắt cáy ở ven sông (Hoàng giang tức sự). c. Xu hƣớng bất mãn thời thế Ngay trong thời kỳ cực thịnh của nhà Hậu Lê, tƣ tƣởng bất mãn thời thế vẫn có ở một số sĩ phu tiết tháo, khao khát đem tài trí giúp đời nhƣng bị vùi dập, phải trở về ở ẩn, trong đó có cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc, Tâm sự u ẩn của các nhà thơ phản ánh rõ bản chất xấu xa của chế độ phong kiến. 20 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  21. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam CHƢƠNG 5 NGUYỄN TRÃI- CUỘC ÐỜI VÀ SỰ NGHIỆP A. CUỘC ĐỜI NGUYỄN TRÃI I. VÀI NÉT VỀ DÕNG DÕI NGUYỄN TRÃI: - Về dòng họ nội của Nguyễn Trãi, đến nay, chƣa biết rõ lắm. Gia phả họ Nguyễn ở làng Nhị Khê chỉ ghi chép từ đời Nguyễn Phi Khanh trở xuống. Có nhiều nguyên nhân ẩn giấu gốc tích của họ Nguyễn ở làng Nhị Khê nhƣng nguyên nhân trực tiếp vẫn là vụ án Lệ Chi viên, vụ án chính trị thảm khốc giết chết toàn gia tộc Nguyễn Trãi. Theo quyển Văn chƣơng Nguyễn Trãi (Bùi Văn Nguyên), ông nội của Nguyễn Trãi là Nguyễn Minh Du có 3 ngƣời con: Nguyễn Sùng, Nguyễn Thƣ và Nguyễn Ứng Long. Nguyễn Sùng và Nguyễn Thƣ đều là võ quan dƣới triều Trần Phế Ðế, sau đƣợc Hồ Quý Ly trọng dụng. Riêng Nguyễn Ứng Long (1336- 1408) lại gặp nhiều trắc trở trên đƣờng công danh, sự nghiệp. Ông rất thông minh, ham học, nổi tiếng hay chữ, thi đỗ nhị giáp tiến sĩ đời Trần Duệ Tông (Năm Long Khánh thứ 3, 1374) nhƣng không đƣợc nhà Trần tuyển dụng phải trở về quê làm nghề dạy học. Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Ứng Long mạnh dạn đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra phục vụ triều đình nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm học sĩ kiêm Tƣ nghiệp quốc tử giám. Giặc Minh sang, nhà Hồ thất bại. Cả triều thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh đều bị bắt về Trung Quốc. Cuối đời, ông chết ở Yên Kinh (TQ ) - Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Ðán. Ông là ngƣời thuộc dòng hoàng tộc (Cháu 4 đời của Chiêu Minh Vƣơng Trần Quang Khải), tính tình điềm đạm, khẳng khái, có thành tích xuất sắc chống giặc Chiêm Thành dƣới thời Trần Nghệ Tông nên đƣợc vua nhà Trần giao cho chức vụ Tƣ đồ, quyền ngang Tể tƣớng. Tuy nhiên, khi ông lên nắm quyền, cơ nghiệp nhà Trần đã suy vi. Chán nản thời thế, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn năm 1385 (Xƣơng Phù thứ 9) và mất năm 1390. - Ông ngoại và cha là những ngƣời trực tiếp ảnh hƣởng đến tƣ tƣởng yêu nƣớc thƣơng dân của Nguyễn Trãi sau này. II. CUỘC ĐỜI NGUYỄN TRÃI Sống trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động phức tạp, cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với từng bƣớc đi của lịch sử. Có thhể chia cuộc đời ông thành 3 giai đoạn: 1. Nguyễn Trãi- thời chuẩn bị bƣớc vào đời: Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, sinh năm 1380, quê quán làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng sau dời về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thƣờng Tín tỉnh Hà Sơn Bình. Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh (Có sách nói là con trƣởng). Tròn 6 tuổi, mẹ mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại. Năm 1390, quan Tƣ đồ cũng mất, NT theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê. Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhƣng ông vẫn quyết chí gắng công học tập, nổi tiếng là một ngƣời học rộng, có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nƣớc thƣơng dân. 21 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  22. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam 2. Nguyễn Trãi- thời đánh giặc cứu nƣớc: - Năm 1400 thi đỗ Thái học sinh triều Hồ - Năm 1407, giặc Minh sang xâm lƣợc, Hồ Quý Ly thất bại, Nguyễn Trãi nghe lời cha trở về tìm đƣờng cứu nƣớc nhƣng bị giặc giam nơi thành Ðông Quan suốt mƣời năm dài. - Năm 1416, ông tìm đến cuộc khời nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách. Từ đó, ông gắn bó với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, tham gia xây dựng đƣờng lối quân sự, chính trị phù hợp và đảm đƣơng những nhiệm vụ quan trọng nhƣ soạn thảo thƣ từ địch vận, tham mƣu, vạch ra chiến lƣợc chiến thuật cho nghĩa quân. - 1428, kháng chiến thành công, ông đƣợc Lê Lợi giao cho soạn bài cáo Bình Ngô nổi tiếng. 3. Nguyễn Trãi- thời hòa bình. - Ðƣợc phong chức vị cao trong triều đình và trở thành đầu tàu gƣơng mẫu trong công cuộc xây dựng đất nƣớc -Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét. Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn. Thời kỳ này, ông bắt đầu cay đắng nhận ra sự độc ác của miệng đời: Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng người quanh nữa nước non quanh (Bảo kính cảnh giới 9) - Sau đó, ông đƣợc tha nhƣng không còn đƣợc tin dùng. - 1433, Lê Thái Tổ mất. Ông chán nản xin về ở ẩn ở Côn Sơn - Khi Lê Thái Tôn lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Tả gián nghị đại phu. - Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nƣớc, chỉnh đốn kỷ cƣơng, đào tạo nhân tài. - Năm 1442, vụ án Lệ Chi viên xảy ra. Nguyễn Trãi bị can tội giết vua, cả dòng họ bị tru di tam tộc. - Sau này, khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã tiến hành minh oan, phục hồi chức tƣớc và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại toàn bộ trƣớc tác của Nguyễn Trãi. 4. Nhận xét chung: - Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu chống bạo lực xâm lƣợc và chống gian tà - Tƣ tƣởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng trong thơ ông. Quan điểm xem văn chƣơng là vũ khí chiến đấu thể hiện rõ trí tuệ sáng suốt của một thiên tài và bản lĩnh của một chiến sĩ dũng cảm. 22 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  23. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Cuộc đời Nguyễn Trãi cho chúng ta bài học quý báu về tinh thần nhân đạo, nhiệt tình chiến đấu, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo. B. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC Tác phẩm của Nguyễn Trãi dự đoán là rất nhiều nhƣng đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi viên. Hiện nay, chỉ còn lại một ít có thể kể tên sau: I. VỀ VĂN - Tác phẩm Bình Ngô đại cáo ghi trong Lam Sơn thực lục và Ðại Việt sử ký toàn thƣ. - Quân trung từ mệnh tập: Ðây là một tập văn chính luận thƣ từ địch vận (Có hơn 70 bức thƣ, trong đó đa số các bức thƣ gửi cho tƣớng tá nhà Minh, phần còn lại là những thƣ từ viết gửi cho quân ta. - Văn loại gồm chiếu biểu làm thay cho Lê Lợi - Băng Hồ di sự lục soạn năm 1428 - Văn bia Vĩnh Lăng soạn năm 1435 - Dƣ địa chí soạn năm 1435 II. VỀ THƠ - Ức Trai thi tập gồm 105 bài thơ chữ Hán - Quốc âm thi tập, gồm 254 bài thơ Nôm (ƣớc đoán, đây là quyển thơ Nôm duy nhất còn sót lại sau thảm án Lệ Chi viên. CHƢƠNG 6 PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO” Ngƣời ta chọn Nam quốc sơn hà, Hịch tƣớng sĩ và Cáo bình Ngô là 3 dấu mốc đánh dấu những chặng đƣờng phát triển của chủ nghĩa yêu nƣớc trong văn học thƣợng kỳ trung đại. Ðặc biệt, phải đến cáo bình Ngô, ý thức độc lập chủ quyền, quan hệ gắn bó giữa nƣớc và dân, vấn đề nhân nghĩa, mới thực sự phát triển rực rỡ I. VÀI VẤN ĐỀ CHUNG 1. Hoàn cảnh ra đời: Cuối năm 1427, Vƣơng Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở Việt Nam, đã phải mở cửa thành Ðông Quan đầu hàng. Cuộc kháng chiến 10 năm đã kết thúc vẻ vang. Thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập triều đại mới. 2. Về thể loại Cáo: Nếu văn học động viên mọi ngƣời chiến đấu thì văn Cáo lại có ý nghĩa tuyên ngôn nhằm công bố cho mọi ngƣời biết những chủ trƣơng chính trị trọng đại của toàn dân tộc nhƣ việc xác lập hòa bình, đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng vƣơng triều mới. 23 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  24. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Cáo viết bằng thể văn biền ngẫu, số câu chữ không hạn chế, văn phong mang tính chính luận nên trang trọng, sắc bén, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Kết cấu của bài đại cáo bình Ngô tuân thủ đúng kết cấu của các tác phẩm Thang cáo (đƣợc chép trong chƣơng Thƣơng Thƣ của sách Kinh Thƣ) và Vũ cáo hay đại cáo Vũ Thành (đƣợc chép trong chƣơng Chu thƣ của sách Kinh Thƣ). 3. Về tựa đề bài Cáo: Những quan niệm khác nhau về ý nghĩa của chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo - Ngô: Một cách gọi theo thói quen của ngƣời Việt Nam thời đó để chỉ chung ngƣời trung Quốc. - Ngô: tên vùng đất xuất thân của Chu Nguyên Chƣơng (tức Minh Thành tổ). - Ngô: Một cách gọi của nhân dân để chỉ những tên giặc gian ác, tàn bạo. II. PHÂN TÍCH 1. Nêu luận đề chính nghĩa: - Luận đề này đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa 3 yếu tố: Nhân nghĩa, dân và nƣớc: + Nhân nghĩa: điếu dân phạt tội, bênh vực cho kẻ khốn cùng, chống lại các thế lực phi nhân. + Dân: Dân trong tác phẩm là những ngƣời thuộc tầng lớp thấp nhất nhƣng lại chiếm đa số trong xã hội nông nghiệp thời đó. Ðó là những dân đen, con đỏ, thƣơng sinh, phu phen, manh lệ, những ngƣời có vai trò lịch sử quan trọng, góp phần đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng đất nƣớc. + Nƣớc: Khái niệm nƣớc bao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố * Văn hiến * Ðịa lý * Phong tục tập quán * Các triều đại chính trị * Hào kiệt * Truyền thống lịch sử vẻ vang Những quan niệm của Nguyễn Trãi trong bài Cáo về Nhân nghĩa, Dân, Nƣớc đều xuất phát từ chính thực tiễn kế thừa phát triển của truyền thống yêu nƣớc, phù hợp với đạo đức truyền thống và hoàn cảnh lịch sử đƣơng thời. Những quan niệm này, so với trƣớc, đã có nhiều biến đổi, phát triển do sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử. 2. Vạch trần tội ác giặc: Các nhà nghiên cứu xem đoạn văn này là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác khủng khiếp của giặc Minh trong 20 năm trên mảnh đất Ðại Việt. 24 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  25. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ðể đảm bảo vừa tăng cƣờng sức thuyết phục vừa đạt đƣợc tính cô đọng, hàm súc của ngôn từ văn chƣơng, Nguyễn Trãi sử dụng đan xen, kết hợp hàihòa giữa những hình ảnh mnag tính chất khái quát với những hình ảnh có tính cu, sinh động. 3. Tổng kết quá trình kháng chiến: a. Hình ảnh của Lê Lợi buổi đầu kháng chiến Tập trung miêu tả hình ảnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã khái quát toàn vẹn nƣng phẩm chất tiêu biểu nhất của con ngƣời yêu nƣớc ở thế kỷ XV. Những đặc điểm của con ngƣời yêu nƣớc trong văn học thời kỳ này thƣờng có đặc điểm sau: - Xuất thân bình thƣờng: Ta đây Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình - Có tấm lòng căn thù giặc sâu sắc: Ngẫm thù lớn há đội trời Căm giặc nước thề không cùng sống - Khở đầu gặp nhiều khó khăn nhƣng luôn có tinh thần vƣợt khó, kiên trì: Trời thử lòng trao cho mệnh lớn Ta gắng chí khắc phục gian nan - Biết tập hợp, đoàn kết toàn dân: Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phất phới Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào - Biết sử dụng chiến lƣợc, chiến thuật tài tình: Thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh Dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều - Biết nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa trong mọi hoạt động: Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân mà thay cường bạo Có thể nói, Lê Lợi chính là hình ảnh tiêu biểu của những con ngƣời yêu nƣớc dám hy sinh quên mình đứng dậy chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc. 25 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  26. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam b. Miêu tả quá trình kháng chiến - Ơí đây, ta không tìm thấy những anh hùng cá nhân trong văn chƣơng trung đại hay trong các tác phẩm anh hùng ca của Hy Lạp cổ đại. Bài Cáo tập trung làm sáng rõ vai trò của một tập thể anh hùng, những ngƣời mà trƣớc kia văn học bác học chƣa quan tâm đi sâu, khai thác - Tuy nhiên, đối với tƣớng giặc, tác giả lại miêu tả đầy đủ, cụ thể từng gƣơng mặt, họ tên, chức tƣớc và tƣ thế thất bại của từng tên một. - Cách sử dụng liệt kê ngày tháng thể hiện rõ nhịp độ dồn dập của những trận chiến thắng. 4. Tuyên bố hòa bình, xây dựng vƣơng triều mới: - Nhịp thơ dàn trải, trang trọng - Khẳng định thế thịnh suy tất yếu C. Tổng kết CHƢƠNG 7: THƠ NGUYỄN TRÃI Nguyễn Trãi không những là nhân chứng cho những biến động bão táp của lịch sử thế kỷ XV mà còn là ngƣời trực tiếp tham gia vào chính những biến động đó. Ngay cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy những bão táp, thăng trầm. Vì vậy, thơ ông thể hiện rõ một vốn sống đã ở độ chín, một suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp và một tình cảm nhân hậu đối với thiên nhiên, con ngƣời. Qua thơ Nguyễn Trãi, ta có thể hiểu thêm rất nhiều điều về con ngƣời Nguyễn Trãi với những khát vọng lớn lao và những tâm tƣ u uất. I. TÌNH YÊU QUÊ HƢƠNG TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI - Ðối với Nguyễn Trãi, quê hƣơng chính là nơi xuất phát của những tình cảm cao đẹp. Thơ ông nói rất nhiều về quê hƣơng bằng một tình cảm thiết tha, lắng đọng. Có khi, đó là những hồi ức đẹp thời thơ ấu: Quê cũ nhà ta thiếu của nào Rau trong nội, cá trong ao (Ngôn chí 13) Có khi, đó là nỗi nhớ day dứt trong những năm tháng xa quê tìm đƣờng cứu nƣớc: Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền (Mạn hứng) Có khi, đó là tình cảm thân thiết của tác giả đối với quê cũ, ngày trở về ở ẩn: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai (Côn Sơn ca) 26 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  27. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Nhà thơ cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống thanh bần, trong sách nơi quê hƣơng, nơi thanh lọc tâm hồn, gìn giữ phẩm giá ngƣời quân tử: Ngày tháng kê khoai những sản hằng Tường đào ngõ mận ngại thung thăng Yêu quê hƣơng, nhà thơ luôn trăn trở với khát vọng: làm gì cho quê hƣơng Gia sơn cách đường nghìn dặm Sự nghiệp buồn, đêm trống ba II. TẤM LÕNG ƢU QUỐC ÁI DÂN SÂU NẶNG Trong thơ Nguyễn Trãi, ta thƣờng bắt gặp những từ tiên ƣu, ƣu ái. Ðây là nét ngời sáng trong tâm hồn Nguyễn Trãi: Bui một tấc lòng ưu ái cũ Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông (Thuật hứng 5) Oải ốc thê thân kham độ lão Thương sinh tại niệm độc tiên ưu Bình sinh độc bão tiên ưu chí Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên Gia sơn đường cách nghìn dặm Ưu ái lòng phiền nửa đêm Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, Xuất phát từ một câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm đời Tống, từ tiên ƣu thể hiện rõ quan niệm sống cao cả: yêu nƣớc thƣơng dân, chiến đấu suốt đời vì nƣớc vì dân. Suốt đời mình, Nguyễn Trãi xem công danh chỉ là điều kiện giúp đời: Một thân lẩn quất đường khoa mục Hai chữ mơ màng việc quốc gia Vì nợ quân thân chưa báo được Hài hoa còn bận dặm thanh vân (Ngôn chí 11) Nhà thơ luôn ý thức rõ ràng về trách nhiệm của một kẻ sĩ chân chính: 27 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  28. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ðầu tiếc đội mòn khăn Ðỗ Phủ Tài còn lọ hái cúc Uyên Minh (Mạn thuật 9) Quốc phú binh cƣờng chăng có chƣớc Bằng tôi nào thuở ích chƣng dân Những khát khao, mơ ƣớc của Nguyễn Trãi luôn đi trƣớc, chỉ đạo mọi hành động: Lẽ có Ngu câìm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương (BKCG 43) Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền (Tự thán 4) Từ mơ ƣớc, tác giả thể hiện rõ một quyết tâm hành động: Khó ngặt qua ngày xin sống Xin làm đời trị mỗ thái bình (Tự thán 28) Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược Có nhân, có trí, có anh hùng (BKCG 5) Những năm cuối đời nhiều bất hạnh, thơ Nguyễn Trãi đôi khi lắng đọng một nỗi niềm u uất, chán nản, bi quan, thậm chí thấm thía giọng điệu mỉa mai cho sự nghiệp anh hùng dở dang của mình: Say mùi đạo trà ba chén Tả lòng phiền thơ bốn câu Uất uất thốn hoài vô nại xứ Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh Có lúc, ông mỉa mai chính bản thân mình: Cưỡi gió lên cao chín vạn tầng Xưa kia lầm ví với chim bằng 28 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  29. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Có lúc, thơ ông thấm lạnh một nỗi cô đơn tê tái trong những đêm dài trên núi Côn Sơn: Rượu đối cầm đâm thơ một thủ Ta cùng bóng lẫn nguyệt ba người Có lúc, ông ví mình nhƣ một chiếc thuyền con, giữa trời chiều mênh mông chẳng biết ghé bến nào: Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ Trời ban tối biết về đâu Tuy nhiên, vƣợt qua tất cả những bất hạnh, thăng trầm của cuộc đời làm quan bị ganh ghét, đố kỵ, Nguyễn Trãi vẫn giữ cho mình Một tấc lòng son còn nhớ chúa- Tóc hai phần bạc bởi thƣơng thu. Có âm điệu buồn trong thơ ông nhƣng đó không phải là âm điệu chủ đạo. Vấn đề lớn lao nhất mãi làm ông quan tâm chính là ƣu quốc, ái dân, lo cho đất nƣớc và thƣơng nhân dân. Ðiều làm tỏa sáng nhân cách lớn lao của một ngƣời anh hùng, một kẻ sĩ chân chính. III. MỘT TRÍ TUỆ UYÊN BÁC LUÔN TÌM HIỂU ĐỂ NẮM BẮT NHỮNG QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA ĐỜI SỐNG Trong thơ ông, ta thƣờng thấy những tƣ tƣởng triết học phƣơng Ðông đƣợc dân tộc hóa và những kết luận có giá trị về quy luật của đời sống. Nhà thơ là con ngƣời giàu suy tƣ để dằn vặt với nỗi đau hữu hạn của đời ngƣời cho dù đó là cuộc đời của ngƣời anh hùng: Kim cổ vô cùng giang mạc mạc Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu (Vãng hứng) Giang san như tạc anh hùng thệ Thiên địa vô tình sự biến đa Họa phúc hữu môi phi nhất nhật Anh hùng di hận kỷ thiên niên (Quan hải) Nhà thơ có những kết luận có giá trị về vai trò và sức mạnh vĩ đại của quần chúng, những ngƣời làm nên lịch sử: Phúc chu thủy tín dân do thủy Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên (Quan hải) Ở yên thì nhớ lòng xung đột Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày Có khi, chính vốn sống, sự nếm trải trong cuộc đời thăng trầm đã giúp nhà thơ thấy rõ hơn bản chất của lòng người: 29 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  30. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Dễ hay ruột biển sâu cạn Khôn biết lòng người ngắn dài Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng người quanh nữa nước non quanh Phải là ngƣời có vốn sống, sự từng trải mới có thể có những nhận xét sâu sắc về cuộc đời: Tĩnh lý càn khôn kinh vạn biến Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim (Thu nguyệt ngẫu thành) IV. MỘT CHÍ KHÍ HÀO HÙNG, MỘT NHÂN CÁCH CAO THƢỢNG: Mạnh mẽ, hào hùng, khẳng khái, trong sách, đó là nhân cách và chí khí Nguyễn Trãi đƣợc thể hiện qua thơ ông. - Nhà thơ luôn có ý thức vƣơn lên trong thử thách để khẳng định chí khí hào hùng của mình: Khó khăn thì mặc có màng bao Càng khó bao nhiêu chí mới hào Ông thƣờng thể hiện chí chí của mình bằng những hình ảnh kỳ vĩ: Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ Tráng tâm hô khởi bán phàm phong (Quá hải) Với bản lĩnh và nghị lực của một ngƣời anh hùng, ông luôn tự hào, tự tin về mình: Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt Túi thơ chứa hết mọi giang san (Tự thán 2) Gánh khôn đương quyền tướng phủ Lui ngõ được đất Nho thần (Trần tình 1) Vì tự tin, tự hào nên trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ vẫn giữ đƣợc phong thái ung dung, tự tại: Ðủng đỉnh chiều hôm dắt tay Trông thế giới phút chim bay Ðạp áng mây, ôm bó củi Ngồi bên suối gác cần câu Quét trúc bước qua lòng suối 30 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  31. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Thưởng mai về đạp bóng trăng Không chỉ có phong thái ung dung tự tại, cách nói của nhà thơ cũng thật khẳng khái, mạnh mẽ: Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi Ông này đã có thú ông này Chớ cậy sang mà ép nề Lời chẳng phải vẫn không nghe - Là một kẻ sĩ có nhân cách cao thƣợng Nguyễn Trãi luôn tự hào về những năm tháng làm quan thanh liêm của mình: Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa Thập niên thanh chức ngọc hồ băng Ðó là một con ngƣời Cốt lãnh hồn thanh chăng khứng hóa, luôn sống thanh bạch, giản dị, không chấp nhận luồn cúi để nhận bổng lộc: Mắt hòa xanh đầu dễ bạc Lưng không uốn, lộc nên từ Cơm kẻ bất nhân ăn, ấy chớ Aïo người vô nghĩa mặc, chẳng thà Ðó cũng là con ngƣời trải bao thăng trầm dâu bể, bao đau đớn bất hạnh vẫn cứ nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, con mắt tin yêu, hy vọng: Tuổi cao tóc bạc cái râu bạc Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh Không những thế, Nguyễn Trãi luôn luôn có ý thức bảo vệ nhân cách trong sáng của mình, chống lại mọi cám dỗ của đời sống: Ngọc lành nào có tơ vết Vàng thực âu chi lửa thiêu V. MỘT TÂM HỒN NHẠY CẢM RỘNG MỞ Thơ Nguyễn Trãi luôn chan hòa tình cảm đối với thiên nhiên, con ngƣời. Ông có cách nhìn, cách cảm tuyệt với trƣớc vẻ đẹp của thiên nhiên, chân thành tha thiết trong tình bạn, hóm hỉnh nhƣng tế nhị, sâu sắc trong tình ngƣời. - Ông xem thiên nhiên là bạn, láng giềng, anh em, những ngƣời an ủi mình trên đỉnh Côn Sơn cô độc Cò nằm hạc lặc nên bầy bạn 31 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  32. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ủ ấp cùng ta làm cái con Láng giềng một áng mây bạc Khách khứa hai ngàn núi xanh Vì yêu thiên nhiên nên Nguyễn Trãi đã viết đƣợc những câu thơ tuyệt vời về vẻ đẹp của thiên nhiên: Nước biếc non xanh thuyền gối bãi Ðêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu Hương cách gác vân thu lạnh lạnh Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh - Với bạn, tác giả luôn bày tỏ tấm lòng chân thành tha thiết: Có thuở biếng thăm bạn cũ Lòng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh Danh thơm một áng mây nổi Bạn cũ ba thu lá tàn - Với con ngƣời, tác giả tỏ ra rất sâu sắc, nhạy cảm trong khi phát hiện những biến đổi, xao động phức tạp trong tâm hồn con ngƣời: Bài thơ Tiếc cảnh 10, Cây chuối, cảnh hè, VI. NGHỆ THUẬT THƠ Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi có trên 100 bài thơ chữ Hán và 254 bài thơ chữ Nôm. Ðặc biệt, qua Quốc âm thi tập, ta có thể thấy rõ những đóng góp đáng trân trọng của Nguyễn Trãi về nhiều phƣơng diện mà tiêu biểu nhất là phƣơng diện thể thơ và ngôn từ: 1. Về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi - Ðây là một thể thơ đƣợc sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Ðƣờng luật. Ðiểm khác biệt là ở hiện tƣợng xen kẽ những câu sáu tiếng vào các câu 7 tiếng của bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Ðƣờng. - Số lƣợng các bài thơ đƣợc sáng tác theo hình thức này rất lớn (186/254) chứng tỏ rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng thể thơ này nhƣ một sự thử nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc, chống lại ảnh hƣởng quá sâu sắc của thi ca Trung Hoa. - Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ 6 tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thƣờng phù hợp với việc diễn đạt những chân lý của đời sống, những quyết tâm hành động của nhà thơ. Ngoài ra, cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ 6 chữ khiến nó có khả năng diễn đạt đƣợc những cung bậc tình cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con ngƣời. 32 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  33. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam - Tuy nhiên, sự xuất hiện của các câu thơ 6 chữ đã làm phá vỡ kết cấu hoàn chỉnh của bài thơ Ðƣờng luật, dẫn đến việc thất niêm, thất luật. Vì vậy, thể thơ này ngày càng ít đực sử dụng, nhƣờng chỗ cho những thể thơ dân tộc khác hoàn chỉnh hơn về mặt cấu trúc và niêm luật. 2. Ngôn từ thơ Nôm Nguyễn Trãi: - Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chƣơng trung đại, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các hình ảnh tƣợng trƣng ƣớc lệ. - Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng dung dị, tự nhiên, gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Từ ngữ trong thơ Nôm thƣờng có sức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo. - Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đƣa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao. Giảng văn: Bài thơ Bảo kính cảnh giới số 43 của Nguyễn Trãi CHƢƠNG VIII: KHÁI QUÁT VĂN HỌC TỪ THẾ KỶ XVI ÐẾN NỬA ÐẦU THẾ KỶ XVIII Lê Thánh Tông mất ở thời điểm cuối thế kỷ XV. Triều đại Hậu Lê chấm dứt thời kỳ hƣng thịnh và bắt đầu trƣợt dài trên con đƣờng suy thoái kể từ đầu thế kỷ XVI. Trong hoàn cảnh mới, văn học vẫn phát triển mạnh mẽ nhờ đáp ứng kịp thời những nhu cầu của thời đại. I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 1. Sự phân hóa trầm trọng nội bộ giai cấp thống trị dẫn đến nội chiến phong kiến gần một thế kỷ: - 1497- Lê Thánh Tông mất - 1505- Lê Uy Mục lên ngôi, nổi tiếng là một vua dâm bạo, tàn ác. Kể từ đây, nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn nghiêm trọng do xung đột giữa các phe phái quý tộc trong việc tranh quyền đoạt lợi. Từ năm 1505 đến 1527, đã có đến 6 triều vua thay nhau nối ngôi. - 1527- Mạc Ðăng Dung cƣớp ngôi nhà Lê lập nên nhà Mạc - Nguyễn Kim chạy vào Thanh Hóa cùng với một số tôn thất nhà Lê thành lập triều Lê Trung Hƣng tiến hành chống nhà Mạc. Sử gọi là cuộc chiến tranh Nam- Bắc triều kéo dài gần 50 năm (1546- 1592) - 1592- Nam thắng Bắc. Nhà Mạc thua trận phải chạy về Cao Bằng. Tại Thăng Long chế độ vua Lê- chúa Trịnh hình thành. - Trịnh Kiểm giành quyền. Nguyễn Uông bị giết. Nguyễn Hoàng hoảng sợ xin vào khai phá vùng đất phía Nam rồi lập nên nhà Nguyễn tiến hành chống lại vua Lê- chúa Trịnh ở đàng ngoài. Sử gọi là Trịnh- Nguyễn phân tranh, kéo dài gần 50 năm (1627- 1672). Trong suốt thời gian nội chiến có 7 lần đánh nhau to nhƣng không bên nào giành phần thắng nên đành lấy sông Gianh làm giới tuyến chia đôi sơn hà. 2. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và sự bành trƣớng của thế lực đồng tiền. 33 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  34. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Trong hoàn cảnh chiến tranh, kinh tế vẫn có sự phát triển mạnh mẽ : - Khẩn hoang lập đất ở đàng trong - Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp ở cả hai đàng - Sự hình thành các đô thị lớn - Ngoại thƣơng phát triển nhanh do bắt đầu thiết lập quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa với các thuyền buôn phƣơng Tây. Kinh tế hàng hóa phát triển dẫn đến sự bành trƣớng của thế lực đồng tiền dần dần phá hoại nền tảng truyền thống đạo đức của dân tộc. 3. Về tƣ tƣởng - Ðạo Nho ngày một suy vi - Ðạo Phật chấn hƣng- Ðạo Lão phát triển - Sự ra đời của đạo Hoa Lang. II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC 1. Những đặc điểm chung + Lực lƣợng sáng tác nho sĩ bình dân và ẩn dật chiếm đa số. + Văn học chữ Nôm phát triển mạnh do: - Kế thừa những thành tựu của giai đoạn trƣớc - Hán học suy vi - Nho sĩ bình dân ẩn dật chiếm đa số + Sự xuất hiện của nhiều thể loại mới: - Lục bát- Truyện thơ Nôm, diễn ca lịch sử - Song thất lục bát- Khúc ngâm 2. Nội dung chính: a. Nội dung thù phụng, ca ngợi chính quyền phong kiến b. Nội dung ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, đất nƣớc c. Nội dung tố cáo hiện thực xấu xa thối nát của chính quyền phong kiến đƣơng thời: 34 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  35. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Ðây là nội dung tiêu biểu và có giá trị của văn học thời kỳ này. Tập trung vào một số tác giả tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, NguyễN Cƣ Trinh, Ngô Thế Lân, Nguyễn Hàng. Thơ văn họ hoặc tố cáo trực tiếp bản chất xấu xa của chế độ phong kiến hoặc ca ngợi chữ Nhàn nhƣ một cách phản kháng gián tiếp. Vì vậy, nội dung này có giá trị hiện thực sâu sắc. + Tố cáo nội chiến phong kiến tàn khốc. + Tố cáo sự xấu xa, thối nát của bọn vua chúa, quan lại đƣơng thời. + Phản ánh sự suy đồi của đạo đức phong kiến do ảnh hƣởng của thế lực đồng tiền. d. Phản ánh số phận bi thảm của con ngƣời, nhất là ngƣời phụ nữ đ. Ca ngợi tình yêu tự do, phóng khoáng Trong hoàn cảnh chế độ phong kiến và Nho giáo ngày một suy vi, văn học bắt đầu đề cập đến những nhu cầu giải phóng tình cảm con ngƣời. Các tác giả đã tỏ ra rất táo bạo, nhiệt tình, mới mẻ khi phản ánh, ca ngợi tình yêu, khẳng định hạnh phúc nơi trần thế và đề cao vai trò chủ động của ngƣời phụ nữ trong tình yêu (Lâm tuyền kỳ ngộ, Song Tinh bất dạ, ). Những tác phẩm này thể hiện rõ sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học III. NHẬN XÉT CHUNG Văn học thời kỳ này có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. CHƢƠNG 9: NGUYỄN BỈNH KHIÊM- CUỘC ÐỜI VÀ THƠ VĂN I. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC Sinh năm 1491 mất năm 1585, tên húy là Văn Ðạt, tự là Hanh Phủ, đạo hiệu Bạch Vân cƣ sĩ. NBK vốn ngƣời làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dƣơng. Cha ông là Văn Ðịnh (Cù Xuyên tiên sinh), mẹ là con gái quan thƣợng thƣ Nhữ Văn Lan Lúc nhỏ, ông theo học bảng nhãn Lƣơng Ðắc Bằng, nổi tiếng thông minh khác thƣờng, đƣợc thầy yêu mến. Học giỏi nhƣng lúc còn trẻ,ông không chịu ra thi làm quan, thích sống đời ẩn dật. Mãi đến năm 45 tuổi, ông đột ngột ra thi và đỗ ngay Trạng nguyên khoa Ất Mùi, niên hiệu Ðại Chính thứ 6 (1535) đời Mạc Ðăng Doanh. Ở triều đƣợc 8 năm, ông lại xin về ở ẩn nhƣng vẫn theo giúp nhà Mạc khi có yêu cầu. Về Trung Am, ông cho xây dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân bên dòng sông Tuyết để dạy học trò nên ngƣời đời sau còn gọi ông là Tuyết giang phu tử. Học trò ông có nhiều ngƣời lỗi lạc nhƣ Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Khi mất, ông đƣợc nhà Mạc truy phong Lại bộ thƣợng thƣ Trình quốc công, cho xây dựng miếu thờ II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC Chữ Hán: Bạch Vân am tập, một bài tựa, tác phẩm Trung Tân bi quán ký, Thạch Khánh ký. Chữ Nôm: Bạch Vân quốc ngữ thi (khoảng 170 bài thơ) 35 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  36. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam III. NỘI DUNG THƠ VĂN 1. Tố cáo hiện thực xã hội đƣơng thời Sống gần trọn thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm chứng kiến toàn vẹn sự suy sụp từng bƣớc của chế độ phong kiến. Thơ văn ông phản ánh rõ nét thực chất phi nghĩa, tàn khốc của nội chiến phong kiến và những mặt trái của xã hội đƣơng thời. Ở đó, từ vua, quan đến tầng lớp kẻ sĩ xu nịnh đều xem đồng tiền là trên hết. Lễ giáo phong kiến ngày một suy vi: Cương thường nhật điệu thi Lễ nghĩa thán quải trượng (Cảm hứng). Bọn vua chúa gian dâm vô độ, thích gây chiến tranh khiến đồng ruộng biến thành bãi chiến trƣờng, khắp nơi đều là lũy giặc: Nguyên dã tác chiến trường Tỉnh ấp biến tặc lũy. Bọn quan lại đƣợc tác giả so sánh với bọn chuột lớn bất nhân chuyên dựa vào thế lực vua chúa để đục khoét của cải của nhân dân khiến mọi ngƣời oán đầy bụng Thành xã ỷ vi gian Thần dân oán mãn phúc (Tăng Thử) Lý tƣởng trọng nghĩa khinh tài của kẻ sĩ bị bôi nhọ bởi đồng tiền: Còn bạc còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi (Thói đời) Xã hội phong kiến chỉ đầy dẫy nhựng cảnh cá lớn ăn thịt cá nhỏ. Tinh thần nhân nghĩa giờ bị mờ nhạt bởi sức nặng của đồng tiền: Ðời nay nhân nghĩa tựa vàng mười Có của thì hơn hết mọi lời 2. Triết lý chữ Nhàn trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Ðể chỉ tƣ tƣởng nhàn tản, có nhiều thuật ngữ: an nhàn, nhàn tản, nhàn dật, nhàn phóng, ản dật, nhàn, Nói chung đều có nghĩa là làm rất ít hoặc không làm gì cả. Thể xác an nhàn, tâm hồn thanh thản, những kẻ sĩ ẩn dật thƣờng không còn lo nghĩ việc đời, thích ngao sơn ngoạn thủy, xem danh lợi nhƣ một áng phù vân. Tƣ tƣởng Nhàn của kẻ tu hành chịu ảnh hƣởng của thuyết xuất thế của nhà Phật. Tƣ tƣởng nhàn của những kẻ trốn tránh nhiệm vụ, hƣởng lạc, vinh thân phì da là những tƣ tƣởng có tính chất tiêu cực. Nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, một kẻ sĩ có khát vọng cứu dân giúp đời nhƣng bất lực trong hoàn cảnh rối ren, là sự phản kháng, không cộng tác với nhà nƣớc phong kiến để giữ tròn phẩm giá của kẻ sĩ chân chính trong thời buổi loạn lạc: 36 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  37. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Lúc nhàn ngẫm việc xưa nay Không gì hiểm bằng đường đời (Trung Tân ngụ hứng) Lòng vô sự, trăng in nước Cửa thảng lai, gió thổi hoa (Thơ Nôm 34) Rượu đến cội cây ta sẽ nhắp Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao Cũng có lúc tác giả nhắc đến sự chọn lựa vụng dại của mình mà thật ra là để chê trách sự gian xảo của ngƣời đời: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao Người xảo thì ta vụng Âúy vụng thế mà hay Ta vụng thì người xảo Ấy xảo thế mà gay (Trung Tân ngụ hứng) Qua việc ca ngợi chữ Nhàn, có thể thấy rõ tấm lòng yêu nƣớc thƣơng dân chân thành của nhà thơ. 3. Những quan niệm triết lý sâu sắc về cuộc sống Cuộc đời nhàn tản giúp Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể chiêm nghiệm đƣợc thời thế hƣng vong. Ông đƣợc xem là một nhà thơ triết học nhờ những nhận xét mang tính khái quát, hàm súc cao độ về bản chất của đời sống, lẽ hƣng vong, đắc thất, sang hèn: Hoa càng khoe nở hoa nên rữa Nước chứa cho đầy nước ắt vơi (Trung Tân ngụ hứng) Ðối với NBK, sự biến đổi có tính chất tuần hoàn của tạo hóa (theo quan niệm triết học của ngƣời trung đại) đƣợc đồng nhất với sự biến đổi, hƣng vong, đắc thất của chế độ phong kiến. Sự biến đổi này, theo ông, là rất ghê gớm: Thế gian biến cải vũng nên đồi Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi Dựa vào lẽ tƣơng sinh tƣơng khắc, ông đã thể hiện rõ những xung đột gay gắt trong xã hội đƣơng thời: chiến tranh phong kiến, sự phân chia giai cấp nghèo giàu, sang hèn trong xã hội, mâu thuẫn giữa hạnh phúc và bất hạnh trong đời ngƣời, Chính những xung đột đó đã dẫn đến một quá trình suy thoái mà những kẻ sĩ chân chính thời đó luôn đau lòng khi chứng kiến. Dựa vào lẽ tuần hoàn, ông cố gắng lý giải sự biến đổi, sự suy thoái của chế độ phong kiến nhƣ là một giai đoạn tất yếu trong chu kỳ hết hƣng thịnh đến suy vong. Ðiều này cũng có nghĩa là ông rất tin tƣởng vào tƣơng lai, lúc mà CÐPK tìm lại đƣợc sự ổn định, cân bằng : 37 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  38. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Tái nhất âm hề phục nhất dương Tuần hoàn vãn phục lý chi thường (Khiển hứng) Tuy nhiên, sự vận động của lịch sử dân tộc không đồng nhất với sự vận động của chế độ phong kiến. Vì vậy, bản thân những tƣ tƣởng của ông cũng chứa đựng những mâu thuẫn giữa ý muốn giải quyết những khó khăn của phong kiến trong hoàn cảnh suy thoái và sự bất lực trƣớc hoàn cảnh nan giải đó 4. Khát vọng cứu nƣớc giúp đời trong hoàn cảnh nhàn tản. Nói đến tính chất tích cực trong tƣ tƣởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là nói đến một tấm lòng tiên ƣu đến già vẫn chƣa thôi: Lão lai vị ngãi tiên ưu chí Ðắc táng cùng thông khởi ngã ưu (Tự thuật) Sống trong hoàn cảnh loạn lạc, tâm sự lo âu khiến tóc ông bạc trắng (Nguy thời ƣu quốc mấn thành ti- Thu tứ). Tóc bạc trắng, bởi tấm lòng ƣu ái vẫn đêm đêm day dứt: Ưu thời thốn niệm bằng thùy tả Duy hữu hàn sơn bán dạ chung (Trung Tân quán ngụ hứng) Tóm lại, NBK thân nhàn nhƣng tâm không nhàn, suốt đời lo nƣớc thƣơng dân 5. Tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời sâu nặng. Tác phẩm của ông phần lớn viết trong bối cảnh cuộc sống nhàn tản ở nông thôn và ông tỏ ra rất tâm đắc với đời sống ẩn cƣ đó: Một mai một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Thơ ông thể hiện một sự gắn bó chân thành giữa con ngƣời với cảnh vật: Non nước có mùi lòng khách chứa Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng (Thơ Nôm bài 33) Ba gian am quán lòng hằng mến Ðòi chốn sơn hà mặt đã quen (bài 8) Ông dành trọn tình cảm chân thành của mình cho nhân dân lao động: Vũ Dương khoái đỗ thời thời nhược Thượng thụy ưng tri đại hữu niên (Hạ nhật vũ tình) 38 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  39. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam (Mừng thấy mƣa nắng đúng kỳ- Biết điềm lành đƣợc mùa lớn) 6. Những yếu tố tiêu cực trong tƣ tƣởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm. CHƢƠNG 10 : NGUYỄN DỮ VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ II. TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 1. Về tựa đề tác phẩm 2. Về kết cấu tác phẩm 3. Giá trị đích thực của tác phẩm. Ðây là một tác phẩm chứa đầy những yếu tố thần linh ma quái nhƣng thực chất là tác giả chỉ mƣợn những câu chuyện hoang đƣờng đó để phản ánh những vấn đề nóng bỏng của xã hội đƣơng thời. 4. Nội dung tác phẩm a. Tác phẩm thể hiện rõ tinh thần dân tộc Tác phẩm lấy cơ sở từ những truyền thuyết trong dân gian, con ngƣời, bối cảnh đều trên đất Ðại Việt. Ðặc biệt, trong một số truyện ngắn, tác giả đã thể hiện rõ ý thức tự hào dân tộc qua cách ca ngợi các danh nhân Việt Nam và đánh giá táo bạo về những danh nhân Trung Quốc. Quan niệm địa linh nhân kiệt của Nguyễn Dữ rất phù hợp với quan niệm chung của tầng lớp trí thức yêu nƣớc đƣơng thời. b. Tác phẩm tố cáo sự xấu xa thối nát của chế độ phong kiến đƣơng thời Chủ yếu thể hiện qua hình ảnh của boûn vua chúa, quan lại, kẻ sĩ phong kiến, sự xấu xa của thế lực đồng tiền và đặc biệt là số phận bi thảm của con ngƣời trong chính xã hội đó. c. Vấn đề ngƣời phụ nữ trong tác phẩm Tiếp nối các tác giả trƣớc đó, Nguyễn Dữ đã có cách nhìn đúng đắn, rất nhân đạo, cảm thông đối với ngƣời phụ nữ có cảnh ngộ éo le trong chế độ phong kiến khắc khe, tàn nhẫn. d. Tình yêu trong tác phẩm 5. Vài nét về nghệ thuật: - Truyền kỳ mạn lúc đánh dấu một thành công mới của thể loại văn xuôi tự sự bằng chữ Hán. - Một số truyện ngắn có chất lƣợng nghệ thuật cao nhờ kết cấu tình tiết phức tạp và các nhân vật đƣợc xây dựng khá công phu, có đời sống, tính cách, số phận riêng - Cách miêu tả những nhân vật phản diện khá thành công . - Ngôn ngữ chính xác, cô đọng,các biện pháp nghệ thuật đƣợc sử dụng khá nhuần nhuyễn. 39 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  40. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam Chƣơng 11: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII,NỬA ÐẦU THẾ KỶ XIX -Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nền văn học dân tộc trong suốt thời kỳ phong kiến. Vì sự phát triển rực rỡ của nó mà nhiều nhà nghiên cứu đã mệnh danh cho giai đoạn này là giai đoạn văn học cổ điển Việt Nam. Khái niệm giai đoạn văn học cổ điển Việt Nam ở đây tạm hiểu là một di sản văn học thuộc về quá khứ, có giá trị ƣu tú và đã đƣợc thử thách, đƣợc khẳng định qua thời gian. -Vậy, một vấn đề đặt ra là tại sao văn học giai đoạn này lại phát triển rực rỡ nhƣ vậy? Văn học giai đoạn này phát triển rực rỡ, điều đó không có gì là ngẫu nhiên. Có hai nguyên nhân: +Văn học giai đoạn này đã kế thừa những thành tựu của nền văn học dân gian và những thành tựu của nền văn học viết-một nền văn học đã đƣợc phát triển trong gần tám thế kỷ. +Tuy nhiên cái quyết định vẫn là bối cảnh lịch sử-xã hội, tƣ tƣởng, văn hóa. I.BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TƢ TƢỞNG, VĂN HÓA 1. Giai đoạn khủng hoảng, suy vong trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam và bi kịch lịch sử dân tộc. 1.1.1. Chế độ phong kiến Việt Nam bƣớc vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng -Chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh vào thế kỷ XV. Sang thế kỷ XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu của sự suy yếu. Mầm mống của cuộc khủng hoảng nội bộ đã xuất hiện. Ðây là hai thế kỷ nội chiến phong kiến. -Ðến nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX thì sự suy yếu này không còn là dấu hiệu nữa. Có thể nói chế độ phong kiến Việt Nam đã bƣớc vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ toàn diện của chế độ này vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sự khủng hoảng này đƣợc bộc lộ trên nhiều phƣơng diện nhƣng nổi bật nhất là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến . +Kinh tế: Thành phần kinh tế chính của đất nƣớc giai đoạn này vẫn là kinh tế nông nghiệp. Nền kinh tế này bị đình đốn. Kinh tế sản xuất hàng hóa cũng bị kìm hãm. . + Chính trị: Nhƣ một quy luật, kinh tế đình đốn thƣờng dẫn đến sự hỗn loạn về chính trị. Những mâu thuẫn vốn có, chứa chất lâu ngày trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam đến đây đã có dịp bùng nổ dữ dội. + Văn hóa: Nhà Nguyễn cấm dùng chữ Nôm, cấm đoán về mặt tƣ tƣởng rất nghiệt ngã. * Tóm lại, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa cuối thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Sự khủng hoảng này còn đƣợc biểu hiện ở sức trỗi dậy mãnh liệt với một khí thế chƣa từng có của phong trào nông dân khởi nghĩa. 1.1.2. Nhân dân vùng lên mãnh liệt có lúc giành đƣợc thắng lợi vẻ vang nhƣng rồi lại thất bại. -Giai đoạn này đƣợc mang vinh hiệu là Thế kỷ nông dân khởi nghĩa. Có thể nói đây là thời kỳ đấu tranh liên tục, mạnh mẽ, rộng khắp của quần chúng mà chủ yếu là nông dân. 40 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  41. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam +Tính chất mạnh mẽ thể hiện ở chỗ có những cuộc khởi nghĩa tập trung hàng vạn ngƣời, kéo dài hàng chục năm nhƣ cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751); cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phƣơng ( 1740- 1750); cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1736-1769) +Tính chất rộng khắp thể hiện ở chỗ các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp mọi miền đất nƣớc. -Ðỉnh cao của phong trào khởi nghĩa lúc này là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa này đã dành đƣợc những thắng lợi vẻ vang: Ðánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị trong nƣớc; đánh tan hơn hai mƣơi vạn quân Thanh xâm lƣợc , lập nên một vƣơng triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ .Nhƣng đáng tiếc là Quang Trung chỉ ở ngôi đƣợc mấy năm. Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục. Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Aïnh đã trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn (1802). Triều Nguyễn là một tân triều, nhƣng triều Nguyễn không đại diện cho cái mới. Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình nhà Nguyễn còn thực hiện đƣợc một số chính sách tiến bộ nhƣng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đƣờng phản động để rồi trở thành một triều đại phản động nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì thế dƣới triều Nguyễn các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra. -Tuy nhiên khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh của xã hội đƣơng thời không thể đi đến thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Khởi nghĩa của nông dân chỉ mới là động lực thúc đẩy xã hội phát triển chứ chƣa thể làm thay đổi chế độ xã hội. 1.1.3.Lực lƣợng thị dân trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến - Nền kinh tế hàng hóa vốn xuất hiện từ thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đã có nhiều bƣớc phát triển đáng kể, đến giai đoạn này lại bị nhiều chính sách kinh tế phản động của chính quyền phong kiến kìm hãm cho nên nó chƣa phát triển thành một cơ cấu kinh tế mới để rồi tạo ra một giai cấp tƣ sản, nhƣng cùng với sự đi lên của thành phần kinh tế này thì tầng lớp thƣơng nhân, thợ thủ công ngày càng đông đảo tập trung ở các thƣơng cảng, đô thị. -Tầng lớp này do sinh hoạt kinh tế của họ đã li khai phần nào với quan hệ sản xuất phong kiến, cuộc sống của họ là cuộc sống đi đây đi đó nhiều, giao tiếp rộng rãi kể cả giao tiếp với ngƣời nƣớc ngoài cho nên về mặt tƣ tƣởng, tình cảm, họ trở nên phóng khoáng hơn ngƣời nông dân vốn bị trói buộc vào làng quê, hơn cả nho sĩ vốn bị rập khuôn theo trăm nghìn thể chế, giáo điều chính thống cứng nhắc. Sự có mặt của tầng lớp này cũng đã tạo ra những làn gió mới lan tỏa vào đời sống tƣ tƣởng, tinh thần thời đại. *Tóm lại: lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thƣơng nhƣng quật khởi, có bi kịch nhƣng cũng có anh hùng ca. Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả một sự sụp đổ, tan rã toàn diện của kỷ cƣơng, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội. Song nhìn về phía quần chúng thì đây là thời kỳ quật khởi, thế kỷ bão táp của các phong trào nông dân khởi nghĩa, thời đại đấu tranh tháo cũi sổ lồng. Trải qua nhiều biến động nhƣng cuối cùng xã hội Việt Nam vẫn lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát. Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng lành mạnh, làm quật cƣờng thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, cổ vũ cho sự vƣơn dậy của tài năng, trí tuệ của con ngƣời. 2.Sự phá sản nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến và sự trỗi dậy của tƣ tƣởng nhân văn của thời đại. 1.2.1.Sự phá sản nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến -Giai cấp phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, lấy Nho giáo làm quốc giáo, dựa vào Nho giáo để thống trị nhân dân. Trong mấy thế kỷ trƣớc, khi chế độ phong kiến đang đi lên thì Nho giáo có uy lực 41 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  42. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam của nó. Nhƣng đến thời kỳ này chế độ phong kiến đã bƣớc vào thời kỳ suy vong, khủng hoảng thì Nho giáo cũng bị đả kích, bị lung lay dữ dội. +Nguyên nhân: Sự phá sản này chủ yếu phát sinh từ sức công phá của trào lƣu tƣ tƣởng nhân văn của thời đại và từ hàng ngũ giai cấp thống trị kẻ đã khẳng định, tôn sùng và nuôi dƣỡng ý thức hệ này. +Biểu hiện: Những cái đƣợc gọi là tam cƣơng, ngũ thƣờng của Nho giáo đều bị sụp đổ một cách thảm hại. +Sự sụp đổ cuả ý thức hệ nho giáo có hƣởng đến tầng lớp nho sĩ-lực lƣợng sáng tác văn học của thời đại. Sống trong thời đại Nho giáo bị sụp đổ thảm hại nhƣ vậy, một tầng lớp nhà nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tƣởng. Họ không tìm ra con đƣờng đi, họ hoang mang trƣớc thời cuộc.Một số nhà nho bị bế tắc thực sự, Nguyễn Du đã từng thốt lên: Tráng sĩ bạch đầu bi hƣớng thiên Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên Xuân lan thu cúc thành hư sự Hạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên (Tạp thi) Họ mất hết niềm tin vào chính quyền, vào minh chúa. Số đông đã lui về ở ẩn, hoặc đang làm quan lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình. 1.2.2.Sự trỗi dậy cuả truyền thống nhân văn. -Trong khi Nho giáo bị sụp đổ nhƣ vậy thì một khuynh hƣớng tƣ tƣởng, bảo vệ, khẳng định quyền sống và giá trị, phẩm chất con ngƣời đã phát triền thành một khuynh hƣớng mạnh mẽ. -Cơ sở xã hội, tƣ tƣởng của khuynh hƣớng này: +Cơ sở xã hội: Ðó là phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng bị áp bức mà chủ yếu là của nông dân chống phong kiến đã liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ. +Cơ sở tƣ tƣởng: Ðó là sự sụp đổ cuả ý thức hệ Nho giáo. Phật giáo, Ðạo giáo lại phát triển, tƣ tƣởng thị dân hình thành, tất cả đã có ảnh hƣởng đến sự kết tinh cuả truyền thống nhân văn cuả dân tộc. Những biểu hiện của khuynh hƣớng, tƣ tƣởng nhân văn trong văn học sẽ là sự lên án, tố cáo hiện thực cuộc sống đƣơng thời chà đạp lên quyền sống của con ngƣời; đấu tranh đòi cuộc sống cơm áo; phát triển cá tính; giải phóng tình cảm, bản năng; là thái độ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con ngƣời; là thái độ đồng tình, xót thƣơng, thông cảm của các tác giả đối với các nạn nhân của xã hội. 1.3.Sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc Ðây là giai đoạn nền văn hóa dân tộc phát triển khá mạnh, khá đều khắp, một số ngành đã đạt đƣợc những thành tựu xuất sắc. -Thành tựu: 42 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  43. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam +Khoa học xã hội: Ngành nghiên cứu lịch sử, địa lý phát triển khá mạnh với hai học giả nổi tiếng: Lê Quí Ðôn và Phan Huy Chú. +Khoa học tự nhiên: Nổi bật nhất là ngành y với nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác. +Các ngành văn học, nghệ thuật: Chèo ở Ðàng Ngoài, tuồng ở Ðàng Trong phát triển; văn học chữ Nôm phát triển mạnh, những tác phẩm có giá trị cuả giai đoạn này đều đƣợc sáng tác bằng chữ Nôm; kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật điêu khắc có nhiều thành tựu. -Một số đặc điểm của nền văn hoá: +Trƣớc hết đó là tinh thần duy lý trong quan điểm và phƣơng pháp biên soạn. Việc tiếp nhận văn hóa Trung quốc thoát li tính chất nô lệ, sùng ngoại để đi vào khuynh hƣớng tiếp nhận sáng tạo tinh hoa của văn hóa nƣớc ngoài.Ðó là phƣơng pháp biên soạn sách của Lê Quí Ðôn trọng thực tiễn, óc phán đoán suy luận khá chặt chẽ. +Tinh thần dân tộc: Biểu hiện ở thái dộ nhìn nhận, đánh giá lịch sử dân tộc, văn hóa dân tộc. Lê Quí Ðôn trong Toàn Việt thi lục lệ ngôn đã viết: Nƣớc Việt Nam từ khi mở cõi văn minh không thua kém gì Trung Hoa. Tinh thần ấy còn thể hiện ở hoài bão xây dựng một lá cờ cho y giới nƣớc nhà (Lê Hữu Trác). *Tóm lại: Những thành tựu rực rỡ của nền văn hóa với những đặc điểm riêng của nó là sản phẩm tinh thần của hoàn cảnh lịch sử nói trên. II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC 1.Lực lƣợng sáng tác. 2.1.1.So với các giai đoạn trƣớc, lực lƣợng sáng tác đã có sự đổi mới về lƣợng và chất. -Giai đoạn từ thế kỷ X-XV: Dƣới triều đại nhà Lý, lực lƣợng sáng tác thống lĩnh văn đàn là các nhà sƣ. Triều đại nhà Trần, bên cạnh tầng lớp nhà sƣ là các nhà nho. Thời Lê sơ, lực lƣợng sáng tác chính là các nhà nho. -Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII: Lực lƣợng sáng tác chính vẫn là các nhà nho, bên cạnh lực lƣợng này còn có thêm những cây bút là nho sĩ ở ẩn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ. -Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX: +Lực lƣợng sáng tác tuy vẫn là các nho sĩ, nhƣng bên cạnh những nho sĩ quan liêu, nho sĩ thuộc tầng lớp trên thì nho sĩ bình dân đã chiếm một vị trí đáng kể. +Ngay những nho sĩ quan liêu cũng đã có những đặc điểm mới khác với nho sĩ quan liêu ở các giai đoạn trƣớc. Kiến thức về văn hóa đƣợc mở rộng; vốn sống phong phú vì có những chuyến đi thực tế bất đắc dĩ. 2.1.2.So với các giai đoạn trƣớc, lực lƣợng sáng tác trong giai đoạn này còn có sự chuyển biến trong quan niệm sáng tác. Quan niệm văn dĩ tải đạo,thi ngôn chí vốn là quan niệm tryền thống của các nhà nho Việt Nam. Ðến giai đoạn này, các nhà văn, nhà thơ cũng chƣa thoát khỏi quan niệm ấy, nhƣng bên cạnh đó đã hình thành và phát triển một khuynh hƣớng thu hút đông đảo các nho sĩ sáng tác: Khuynh hƣớng hƣớng tới con ngƣời bình thƣờng, hƣớng tới cuộc sống 43 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  44. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam xã hội rộng rãi, chính quan niệm sáng tác chứa chan bản sắc nhân văn này đã đƣa đến bƣớc phát triển đẹp đẽ, rực rỡ của văn học. 2.Các khuynh hƣớng chính của văn học Chúng ta có thể chia văn học giai đoạn này làm ba khuynh hƣớng chính. 2.2.1.Khuynh hƣớng tố cáo hiện thực và nhân đạo chủ nghĩa. -Ðây là khuynh hƣớng chủ đạo của văn học giai đoạn này. Những tác giả tiến bộ, nhiều tài năng đều thuộc khuynh hƣớng này. Khuynh hƣớng này còn thu hút nhiều tác giả mà thiên kiến chính trị còn có những hạn chế nhƣ Phạm Thái, nhƣng khi đi vào đời sống xã hội, đời sống cá nhân họ lại có nhiều điểm gặp gỡ với yêu cầu dân chủ, nhân đạo của thời đại. -Nội dung của khuynh hƣớng này là phê phán hiện thực và đề cao con ngƣời, đề cao cuộc sống trần tục. 2.2.1.1.Phê phán hiện thực. -Bộ phận văn học chữ Hán. +Trong những tác phẩm văn xuôi viết theo thể ký, bộ mặt của xã hội, của giai cấp thống trị đƣợc dựng lên khá đậm nét. Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh sinh động về cảnh thối nát của triều đinh phong kiến lúc bấy giờ. Vua thì ngồi làm vì, chúa Trịnh nắm hết quyền hành thì hôn mê, mù quáng gây ra bè đảng trong phủ chúa. Quan lại thì bất tài, cơ hội chủ nghĩa. Tập bút kí đặc sắc: Thƣợng kinh kí sự của Lê Hữu Trác. +Trong thơ chữ Hán nhiều nhà thơ đã đi sâu miêu tả cuộc sống của nhân dân. Cao Bá Quát, Phạm Nguyễn Du đã ghi lại những bức tranh sinh động về cuộc sống đói khổ của nhân dân. Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du thƣờng xuất hiện những bức tranh đối lập: Một bên là cuộc sống đói khổ của nhân dân và một bên là cuộc sống xa hoa của giai cấp thống trị. -Bộ phận văn học chữ Nôm. +Khúc ngâm: Chinh phụ ngâm tố cáo chiến tranh phong kiến làm tan vỡ hạnh phúc, tình yêu của tuổi trẻ. Cung oán ngâm khúc tố cáo chế độ cung tần vô nhân đạo làm cho cuộc đời của bao cô gái tài sắc héo hắt, tàn lụi trong cung vua, phủ chúa. +Thơ Hồ Xuân Hƣơng tố cáo chế độ đa thê và toàn bộ nền đạo đức phong kiến đối với ngƣời phụ nữ . +Nguyễn Du trong Truyện Kiều, thông qua cuộc đời của nhân vật chính đã tốï cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con ngƣời. -Ðặc điểm của sự phê phán, tố cáo của văn học giai đoạn này là các tác giả đứng trên lập trƣờng nhân sinh để tố cáo tất cả những gì phản nhân sinh, phản tiến hóa vì thế mà diện tố cáo trong văn học đƣợc mở rộng và nội dung tố cáo cũng sâu sắc hơn. 2.2.1.2.Ðề cao con ngƣời và đề cao cuộc sống trần tục. 44 Thandieu2 _ Sƣu tầm
  45. Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam -Phát triển trong bối cảnh lịch sử mà chế độ phong kiến bƣớc vào thời kì khủng hoảng, ý thức hệ phong kiến bị sụp đổ, trào lƣu nhân văn đang bộc phát lên nhƣ một tƣ trào, văn học giai đoạn này có một đặc trƣng mang tính lịch sử là khám phá ra con ngƣời, khẳng định những giá trị chân chính của con ngƣời, phản ánh những khát vọng giải phóng của con ngƣời. -Khám phá ra con ngƣời, văn học giai đoạn này đã lấy ngƣời phụ nữ làm đối tƣợng phản ánh chủ yếu . -Bên cạnh hình tƣợng ngƣời phụ nữ, văn học giai đoạn này còn tập trung vào hình tƣợng anh hùng. -Hàng loạt tác phẩm nhƣ Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, thơ Hồ Xuân Hƣơng, Sơ kính tân trang, Truyện Kiều rồi nhiều truyện thơ Nôm khác đều phản ánh những khát vọng của con ngƣời. 2.2.2.Khuynh hƣớng lạc quan. -Nhƣ phần bối cảnh lịch sử đã trình bày , triều đại Tây Sơn tuy tồn tại ngắn ngủi nhƣng với những chính sách tiến bộ, với những chiến công của nó, sự có mặt của triều đại này đã thực sự đem đến cho đời sống tinh thần của dân tộc một sinh khí mới. Ðiều này đã để lại dấu ấn trong văn học. -Nội dung chủ yếu của khuynh hƣớng này vẫn là khẳng định cuộc sống, khẳng định con ngƣời, mà tiêu biểu hơn cả là khẳng định công đức của vua Quang Trung trong sự nghiệp chống giặc cũng nhƣ trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc. Một số tác phẩm khác lại thể hiện lòng yêu nƣớc, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc. 2.2.3.Khuynh hƣớng thoát li, tiêu cực, bảo thủ . -Các tác giả giai đoạn này có nhiêìu mâu thuẫn trong tƣ tƣởng, tình cảm nên khuynh hƣớng này có thêí nhắc đến Nguyễn Gia Thiều, Ðặng Trần Côn, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ. -Một số tác giả đứng trên lập trƣờng phong kiến Ðàng Trong hoặc Ðàng Ngoài để mạt sát phong trào Tây Sơn. Các vua nhà Nguyễn nhƣ Tự Ðức, Minh Mệnh và một bộ phận quan lại chịu ảnh hƣởng sâu sắc của ý thức hệ Nho giáo đã ca ngợi đạo đức, luân lý phong kiến. -Một số tác giả vốn là cựu thần, bề tôi của triều Lê-Trịnh, khi thấy vận mệnh của giai cấp mình bị nghẽn lối, họ đâm ra buồn, hoang mang, luyến tiếc quá khứ. Có thể kể đến sáng tác của Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Hành, Bà huyện Thanh Quan. 3.Các đặc điểm chính của văn học giai đoạn này. 2.3.1.Văn học dân tộc phát triển rực rỡ cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng, đặc biệt là về chất lƣợng. Ở cả hai bộ phận văn học Hán và Nôm, đặc biệt là ở bộ phận văn học Nôm có sự phát triển nhảy vọt, phồn vinh chƣa từng thấy. Ðiều này chứng tỏ sự trƣởng thành đến mức thuần thục của văn học Nôm. Tại sao lại có sự phát triển này? +Ðội ngũ sáng tác đƣợc tăng cƣờng, đó là kết quả của việc mở rộng việc học ở nông thôn. +Nhờ có sự thay đổi quan niệm sáng tác do tác động của đời sống. +Luật cấm chữ Nôm không có tác dụng nữa. 45 Thandieu2 _ Sƣu tầm